Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Chưa bao giờ doanh nghiệp tư nhân hiện diện đậm nét trong các dự án lớn như hiện nay
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, khu vực kinh tế tư nhân đang có những đóng góp ngày càng rõ nét đối với tăng trưởng kinh tế, đặc biệt thông qua việc tham gia hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia.

Trong bối cảnh khu vực kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhiều chính sách lớn đã được ban hành nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp. Xung quanh vấn đề này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Nguyên phó Chủ tịch VCCI.

Thưa bà, bà đánh giá như thế nào về đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm cũng như mục tiêu tăng trưởng 10% của cả năm?
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Mục tiêu tăng trưởng 10% là mục tiêu rất cao nên chắc chắn sẽ cần có thời gian để chuẩn bị lực lượng, tạo nền tảng để có thể bứt phá mạnh hơn trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, nhìn vào kết quả của 6 tháng đầu năm, tôi cho rằng đây đã là một thành tựu rất đáng ghi nhận. Trong kết quả đó, đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân là rất lớn.
Điều thay đổi đầu tiên và theo tôi cũng là thay đổi quan trọng nhất chính là cách chúng ta triển khai đầu tư công.
Hiện nay, Nhà nước đang tập trung rất mạnh vào đầu tư công, đặc biệt là các công trình hạ tầng quy mô lớn. Nhưng điều đáng chú ý là những dự án quan trọng nhất đều có sự tham gia rất mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân.
Có thể nhìn thấy điều đó qua hàng loạt dự án đang triển khai tại Hà Nội, TP.HCM, các tuyến đường cao tốc mới, các dự án đường sắt, các công trình kết nối với sân bay Long Thành... Đây đều là những dự án có quy mô rất lớn, yêu cầu không chỉ về vốn mà còn về công nghệ, kỹ thuật, nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện.

Điều khiến tôi rất vui là ở những dự án này, người ta đã nhìn thấy tên tuổi của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Trước đây, mỗi khi nhắc đến các công trình lớn, người ta thường chỉ nghĩ đến các doanh nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng bây giờ thì khác. Ngày càng nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam xuất hiện trong vai trò nhà đầu tư hoặc đơn vị triển khai các công trình trọng điểm.
Theo tôi, đây là một sự thay đổi rất có ý nghĩa. Nó cho thấy năng lực của khu vực kinh tế tư nhân đã được nâng lên và đang được phát huy trong những lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Không chỉ tham gia vào việc khởi động các dự án, trong những năm tới khi các công trình này được đẩy nhanh tiến độ, phần đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân chắc chắn sẽ còn lớn hơn nữa.
Đó cũng sẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10%.
Muốn đạt tốc độ tăng trưởng hai con số thì hạ tầng phải được hoàn thành nhanh hơn và hiệu quả hơn.
Trong quá khứ, chúng ta từng có rất nhiều dự án dự kiến hoàn thành trong ba năm nhưng cuối cùng kéo dài thành năm năm, thậm chí lâu hơn. Tiến độ chậm kéo theo chi phí tăng lên, vốn đầu tư đội lên và hiệu quả của dự án cũng giảm đi.
Điểm khác biệt lần này là các doanh nghiệp tư nhân đưa ra cam kết về tiến độ ngắn hơn và quan trọng hơn là họ đã chứng minh được năng lực thực hiện.

Thực tế đã có những dự án hạ tầng do doanh nghiệp tư nhân triển khai với thời gian rất ngắn nhưng hiệu quả rất cao. Những công trình như sân bay Vân Đồn hay nhiều dự án của Vingroup đã chứng minh rõ điều đó.
Những kết quả ấy cho thấy khu vực tư nhân hoàn toàn có khả năng triển khai các dự án hạ tầng lớn với tốc độ nhanh và hiệu quả cao. Nếu cách làm này tiếp tục được áp dụng rộng rãi thì tôi tin rằng những dự án mới sẽ thực sự đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 10%, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, không chỉ đối với phần vốn của Nhà nước mà cả nguồn lực của doanh nghiệp và toàn xã hội.
Tôi cũng muốn nói thêm một điều.
Khi nhắc đến đóng góp của khu vực tư nhân, chúng ta thường chỉ nghĩ đến doanh nghiệp. Nhưng thực ra còn có sự đóng góp rất lớn của người dân. Rất nhiều người dân đã chấp nhận rời bỏ nơi mình sinh sống từ đời này sang đời khác để nhường đất cho các dự án hạ tầng. Họ chấp nhận thay đổi cuộc sống của mình vì lợi ích chung.
Theo tôi, đó cũng là một sự hy sinh rất lớn của khu vực ngoài nhà nước và cũng là một đóng góp rất đáng được ghi nhận đối với sự phát triển của đất nước.
Ngoài những đóng góp trong lĩnh vực hạ tầng, bà nhìn nhận sự chuyển biến của khu vực doanh nghiệp tư nhân hiện nay như thế nào?
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Tôi cho rằng trên rất nhiều lĩnh vực, các doanh nghiệp tư nhân đang có sự vươn lên khá mạnh mẽ, kể cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Họ nhận thấy rất rõ rằng hiện nay cơ hội mới đang mở ra, đồng thời những thách thức mới cũng ngày càng lớn hơn.
Đây là thời điểm mà thị trường, cả trong nước lẫn quốc tế, đều đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi mạnh mẽ hơn trước rất nhiều. Nếu không phát triển vượt lên thì sẽ rất khó tồn tại trong cạnh tranh.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 68 xuất hiện đúng thời điểm. Nếu chỉ có những yêu cầu mới của thị trường mà không có những thay đổi về thể chế thì doanh nghiệp sẽ vẫn tiếp tục bị những điểm nghẽn cũ cản trở.
Trong nhiều năm qua, không ít doanh nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn từ chính môi trường kinh doanh. Có những chính sách chưa hợp lý, có những quy định khiến doanh nghiệp bị bó buộc, không thể phát huy hết năng lực. Hiện nay, Nhà nước đang đẩy nhanh việc sửa đổi nhiều quy định, tháo gỡ các điểm nghẽn của môi trường kinh doanh.
Theo tôi, chính những thay đổi đó mới tạo ra niềm tin để doanh nghiệp mạnh dạn hơn. Đó là tín hiệu rất tích cực.
Theo bà, hiện nay đâu là những điểm nghẽn lớn nhất vẫn cần tiếp tục tháo gỡ để khu vực kinh tế tư nhân có thể phát triển nhanh hơn?
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Chắc chắn là vẫn còn rất nhiều việc phải làm.
Mặc dù Việt Nam hiện đã được công nhận là quốc gia có thu nhập trung bình cao, nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng kết quả đó có phần đóng góp rất lớn của khu vực đầu tư nước ngoài.
Trong khi đó, nội lực của nền kinh tế vẫn còn cần được củng cố rất nhiều nếu muốn khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh. Chính sách đã được ban hành, nhưng từ chính sách đến khi đi vào cuộc sống luôn cần có thời gian.
Một vấn đề khác là nguồn lực. Nguồn lực của chúng ta hiện nay vẫn còn khá hạn chế và trong số đó, vốn là điều khiến doanh nghiệp lo lắng nhất.

Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận vốn hiện nay rất khó. Việc vay vốn ngân hàng ngày càng khó khăn hơn, trong khi lãi suất tín dụng vẫn ở mức khá cao.
Điều đó khiến doanh nghiệp rất khó tính toán hiệu quả đầu tư.
Nếu muốn đổi mới doanh nghiệp một cách căn bản thì họ cần nguồn vốn trung và dài hạn. Nhưng với cách cho vay hiện nay và mặt bằng lãi suất như vậy thì rất khó để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho những thay đổi lớn.
Không chỉ vốn, nhiều nguồn lực khác như đất đai cũng chưa thực sự dễ tiếp cận. Bên cạnh đó, quá trình điều chỉnh quy hoạch ở nhiều nơi cũng khiến doanh nghiệp băn khoăn.
Ngay cả khi đã có đất rồi thì họ cũng chưa thật sự yên tâm về khả năng sử dụng ổn định trong thời gian dài. Điều đó cũng ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

Khoa học - công nghệ được xác định là một trong những động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo bà, chính sách dành cho doanh nghiệp trong lĩnh vực này hiện đã đủ mạnh hay chưa?
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Theo tôi, điều đáng quan tâm hiện nay không phải là chúng ta chưa có chính sách, mà là khoảng cách giữa chính sách và việc thực thi vẫn còn khá lớn. Rất nhiều chủ trương đã được ban hành nhằm khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ. Tuy nhiên, để doanh nghiệp thực sự tiếp cận được các chính sách ưu đãi đó lại không hề đơn giản.

Nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư đổi mới công nghệ nhưng khi bắt tay vào thực hiện thì gặp không ít trở ngại. Từ việc tiếp cận các cơ chế hỗ trợ cho đến việc hoàn thiện các thủ tục để được hưởng ưu đãi đều không dễ dàng. Một khó khăn nữa là đội ngũ chuyên gia cũng như các tổ chức có thể đồng hành, hướng dẫn doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi còn khá hạn chế.
Doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, rất cần có những người có chuyên môn để tư vấn xem nên lựa chọn công nghệ nào, đầu tư theo hướng nào để đạt hiệu quả cao nhất. Nhưng hiện nay, việc tìm được những nguồn hỗ trợ như vậy vẫn chưa dễ.
Tôi lấy một ví dụ rất đơn giản. Hiện nay chúng ta đang khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển sang sử dụng hóa đơn điện tử và các phương thức quản lý hiện đại. Đây là chủ trương đúng. Tuy nhiên, đối với rất nhiều hộ kinh doanh nhỏ, việc thay đổi không hề đơn giản.
Có những người buôn bán nhiều năm, họ chỉ quen tính nhẩm. Thậm chí họ tính rất nhanh, rất chính xác, nhưng nay phải chuyển sang sử dụng máy móc, phần mềm hay các phương tiện điện tử thì họ cần có thời gian để học, để làm quen.
Không phải ai cũng có sẵn điều kiện để đầu tư thiết bị hoặc tiếp cận công nghệ mới ngay lập tức. Đối với các doanh nghiệp sản xuất cũng vậy. Họ đều mong muốn đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, nâng cao khả năng cạnh tranh. Nhưng khi bắt đầu triển khai thì lại gặp nhiều hạn chế.
Cụ thể, đó là những hạn chế nào, thưa bà?
Thứ nhất là hạn chế về vốn đầu tư.
Thứ hai là khó tiếp cận các chuyên gia đủ năng lực để tư vấn, lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp.
Đó đều là những rào cản rất thực tế.
Theo tôi, còn một vấn đề rất quan trọng nữa là con người.
Không ít doanh nghiệp lo ngại rằng nếu đầu tư cả một dây chuyền sản xuất hiện đại nhưng lại không có đội ngũ lao động đủ trình độ để vận hành thì hiệu quả cũng sẽ không cao.
Vì vậy, sự chuyển biến của ngành giáo dục và đào tạo có ý nghĩa rất lớn. Khoa học - công nghệ muốn đi vào doanh nghiệp thì trước hết phải có nguồn nhân lực đủ năng lực tiếp nhận và vận hành công nghệ đó. Cho nên, phát triển khoa học - công nghệ không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp mà còn gắn chặt với chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.
Một nội dung khác cũng đang được quan tâm là Nghị quyết 90 của Bộ Chính trị về thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tạo sức lan tỏa đối với doanh nghiệp trong nước. Bà đánh giá như thế nào về định hướng này?
Tôi cho rằng đây là một điểm rất tích cực của Nghị quyết 90. Nhìn chung, những nội dung được nêu trong Nghị quyết đều là những định hướng đúng đắn và tôi rất đồng tình.
Điều quan trọng bây giờ là phải thực hiện được những chủ trương đó trong thực tế.
Theo tôi, Nhà nước cần có những yêu cầu nghiêm ngặt hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện các cam kết của mình. Tôi đặc biệt mong muốn chính sách ưu đãi sẽ được thiết kế theo hướng chỉ dành cho những nhà đầu tư đã thực hiện đầy đủ cam kết.
Nói cách khác, nên ưu đãi sau khi họ chứng minh được kết quả thực hiện, chứ không nên ưu đãi ngay từ đầu.
Thực tế trong nhiều năm qua cho thấy phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam đều đưa ra những cam kết rất tốt, chẳng hạn như chuyển giao công nghệ hay tạo sự lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, sau đó không phải cam kết nào cũng được thực hiện đầy đủ. Trong khi đó, các ưu đãi thì họ đã được hưởng ngay từ đầu và chúng ta cũng không thu hồi lại những ưu đãi đó nếu họ không thực hiện đúng cam kết.

Theo tôi, đây là điều cần phải thay đổi. Trong thời gian tới, việc đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài cần có các tiêu chí cụ thể hơn. Ví dụ như những chỉ tiêu về giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam, mức độ chuyển giao công nghệ hay những đóng góp thực chất cho nền kinh tế.
Những tiêu chí đó sẽ là cơ sở để xem xét việc áp dụng các chính sách ưu đãi.
Tôi cũng có một băn khoăn. Đó là mục tiêu để khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 30% GDP. Theo cảm nhận của tôi, tỷ lệ này có phần hơi cao nếu so với nhiều quốc gia khác. Trong khi đó, chúng ta đang đặt mục tiêu tăng cường nội lực của nền kinh tế.
Nếu muốn xây dựng một nền kinh tế có sức chống chịu và phát triển bền vững thì theo tôi cần dành nhiều ưu tiên hơn cho việc phát triển nội lực, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp trong nước.
Đó mới là nền tảng lâu dài của nền kinh tế Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn bà!