Doanh nhân

Doanh nhân Nguyễn Tuấn Anh: Người thổi hồn vào lớp vỏ cà phê, biến thứ bỏ đi thành 'vàng ròng' ở Mỹ, Nhật

Minh Anh 13/02/2026 09:53

Biến vỏ cà phê từ "rác" thành tài sản, doanh nhân Nguyễn Tuấn Anh đã dành 12 năm để "mang chuông đi đánh xứ người". Với công nghệ độc quyền và triết lý kinh doanh tử tế, ông đang hiện thực hóa khát vọng đưa Cascara Việt chinh phục các thị trường khó tính nhất.

mini.jpg

Trong thế giới của những người làm cà phê, hạt nhân luôn là "vương miện", còn vỏ quả thường chỉ nhận lấy số phận của phế phẩm đổ bỏ sau mỗi mùa vụ. Nhưng với doanh nhân Nguyễn Tuấn Anh, Giám đốc Công ty TNHH Việt Thảo Nhiên, chính phần bị lãng quên ấy lại mở ra một mạch nguồn giá trị khác. Ông nhìn thấy trong vỏ cà phê không chỉ là thứ bỏ đi, mà là một “mỏ vàng” dược tính chưa từng được gọi tên đúng nghĩa.

Xuyên suốt cuộc trò chuyện với chúng tôi, hai chữ cố gắng được ông nhắc lại nhiều lần – không phải như khẩu hiệu truyền cảm hứng, mà như một thước đo cho hành trình lặng lẽ đã đi qua. Và rồi, điều từng bị bỏ lại trên nương rẫy sau mỗi mùa cà phê đã có ngày bước ra ánh sáng, hiện diện đầy tự tin trên kệ hàng tại Mỹ, Nhật Bản và châu Âu. Hành trình của Việt Thảo Nhiên là lời đáp thuyết phục cho bài toán kinh tế bền vững: Nâng tầm nông sản Việt bằng sự tử tế và tư duy khác biệt.

td1.jpg

Khoảnh khắc hay trải nghiệm nào khiến ông quyết định bắt tay xây dựng công ty, và hành trình từ ý tưởng đến doanh nghiệp thực tế diễn ra ra sao?

Cách đây 17 năm, khi tìm hiểu về chỉ số ORAC (Khả năng chống oxy hóa), bảng xếp hạng chỉ số hoạt chất chống oxy hóa có trong các loại trái cây chín mọng của USDA (Mỹ), tôi được biết về các hoạt chất chống oxy hóa có trong quả cà phê chín mọng nhiều gấp 80 lần quả dâu tây.

Trong khi quê tôi (Lâm Đồng) nói riêng và Việt Nam nó chung là vùng trồng và xuất khẩu cà phê nhiều đứng thứ 2 thế giới, tuy nhiên người nông dân trồng cà phê lại có thu nhập thuộc loại thấp so với trồng các loại cây công nghiệp khác như tiêu, rau củ quả… do chất lượng cà phê khi thu hoạch thường là chín không đồng đều, quy trình chế biến chưa đảm bảo đủ an toàn vệ sinh, chỉ chú trọng đến thu nhân cà phê, dẫn đến không thể nâng cao được giá trị của sản phẩm.

Trong khi nhu cầu trong nước và xuất khẩu ngày càng cao về các sản phẩm mang tính hữu cơ, tự nhiên chế biến theo phương pháp an lành thì lại không đủ đáp ứng.

Từ đó, tôi bắt đầu tìm hiểu sâu hơn về quả cà phê, trải qua 1 quá trình hơn 10 năm từ kết hợp nghiên cứu với các nhà khoa học hàng đầu về công nghệ sinh học cũng như học hỏi từ những vị có kinh nghiệm trong chế biến, từ những mô hình nhỏ trong phòng Lab đến nay chúng tôi đã tìm ra và ứng dụng cách chế biến quả cà phê ở quy mô công nghiệp để sử dụng tất cả các phần của quả cà phê từ nhân đến vỏ thịt quả cà phê ( Cascara).

Ông có thể chia sẻ cụ thể về cách thức mà công ty đã khai thác và tái sử dụng vỏ cà phê – một nguồn tài nguyên rẻ tiền và phong phú ở Việt Nam? Để đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng, đâu là khó khăn lớn nhất?

Đúng, Việt Nam là cường quốc cà phê thứ hai thế giới, nguồn nguyên liệu vỏ quả của chúng ta dồi dào đến mức kinh ngạc. Nhưng cái ‘rẻ tiền’ đó lại chính là cái bẫy.

q1.jpg

Khó khăn lớn nhất khi khai thác nguồn tài nguyên này không nằm ở công nghệ, mà nằm ở việc áp đặt quy chuẩn lên rẫy cà phê. Lâu nay, người nông dân chỉ quan tâm đến nhân, họ coi vỏ là rác. Mà đã là rác, thì họ không quan tâm đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, không quan tâm đến quy trình vệ sinh hay chăm bón đồng bộ.

Muốn lấy được vỏ làm trà đạt chuẩn quốc tế, tôi phải đi thuyết phục từng nhà, thay đổi từng thói quen chăm bón của bà con. Tôi nói với họ: 'Làm cà phê sạch không chỉ để cứu cái vỏ, mà là để nâng tầm chính cái nhân cà phê của các bác'. Chúng tôi không thu mua rác, chúng tôi thu mua nguyên liệu thượng hạng bị ẩn giấu trong lớp vỏ quả."

Ở nước ngoài, người ta đã biết đến giá trị của nó, nhưng ở Việt Nam, định vị trong đầu người tiêu dùng vẫn là: 'Vỏ là thứ bỏ đi'. Đó là một rào cản tâm lý cực kỳ lớn. Làm sao để khách hàng tin rằng thứ họ từng coi là phế thải lại chính là một loại siêu thực phẩm có hàm lượng chống oxy hóa cao hàng đầu thế giới?

Để đưa sản phẩm đến gần người dùng, tôi không chọn cách giải thích suông. Tôi buộc họ phải thử, phải cảm nhận cái hậu vị ngọt thanh và hương thơm khác biệt qua quá trình lên men công phu. Chúng tôi đang thực hiện một cuộc cải đạo trong tiêu dùng: Biến một thứ bị vứt bỏ thành một vị thuốc, biến sự hoài nghi thành niềm tin dựa trên bằng chứng khoa học và trải nghiệm thực tế. Nếu còn bị nhìn như phế phẩm, Cascara sẽ rất khó bước vào phân khúc giá trị sức khỏe.

Ông lưu trữ sản phẩm 5–7 năm và cho rằng “càng lâu càng ngon”. Trong bối cảnh thị trường đòi hỏi quay vòng nhanh, việc chấp nhận thời gian dài như vậy có khiến ông chịu nhiều áp lực?

Áp lực là điều hiển nhiên, nhưng tôi không nhìn những bao trà lưu kho là hàng tồn, tôi nhìn chúng là tài sản đang tăng giá.

Trong giới trà, có những loại như Trà Phổ Nhĩ, càng để lâu càng giá trị, càng ủ lâu hương vị càng chuyển hóa sang một đẳng cấp khác. Cascara của chúng tôi cũng vậy. Kho lưu trữ 5–7 năm không phải là sự chậm trễ, mà là một quy trình 'luyện vị'. Năm thứ 3 nó mang mùi nhãn nhục, năm thứ 5 nó dậy hương rượu đào. Tôi không muốn bán một thức uống uống xong rồi quên. Tôi chấp nhận đợi nhiều năm để trao đến tay khách hàng vị ngon được ủ kỹ bởi thời gian

Tất nhiên, để 'gồng' được khối tài sản nằm yên đó, tôi cần sự thấu hiểu từ phía ngân hàng và sự đồng lòng tuyệt đối từ gia đình. May mắn là họ tin vào tầm nhìn của tôi. Tôi chấp nhận áp lực tài chính hôm nay để đổi lấy một vị thế độc tôn cho Cascara Việt Nam mai sau. Với tôi, kinh doanh bền vững không phải là việc quay vòng vốn thật nhanh, mà là tạo ra những giá trị mà thời gian không thể thay thế được.

td2.jpg

Ông từng nói làm nhỏ thì dễ, làm lớn mà đồng đều mới khó. Ông đã "trả giá" như thế nào trong những năm đầu tiên thử nghiệm để tìm ra công thức kết hợp giữa kỹ thuật lên men hiện đại và kinh nghiệm của các nghệ nhân trà truyền thống?

Cái khó nhất của một người làm sản phẩm không phải là tạo ra cái ngon, mà là giữ cho cái ngon đó ngàn hũ như một.

12 năm qua, tôi đã đứng giữa hai 'thái cực'. Một bên là các nhà khoa học: Họ làm ra sản phẩm cực kỳ chuẩn xác về hoạt tính nhưng lại thiếu cái 'hồn', cái vị ngon tinh tế. Một bên là các nghệ nhân trà: Họ làm rất ngon nhưng lại dựa trên cảm tính, hôm nay ngon kiểu này, mai lại kiểu khác và không bao giờ đáp ứng được tiêu chuẩn đồng bộ để xuất khẩu.

q2.jpg

Tôi đã phải trả giá rất đắt để dung hòa hai điều này. Đổ bỏ 10 tấn hàng vì hỏng quy trình lên men là chuyện bình thường. Có những máy móc mua về tiền tỷ, dùng không được như ý lại phải dỡ bỏ để thay toàn bộ hệ thống khác. Cái giá phải trả đó không thể tính bằng tiền, mà tính bằng một thập kỷ sai và sửa.

Nhưng chính những năm tháng đó đã tạo nên sức mạnh cho Việt Thảo Nhiên hôm nay. Tại sao các 'ông lớn' Nhật Bản hay các đối tác trăm tỷ dám bắt tay với mình? Vì khi họ đến, họ không chỉ thấy bằng sáng chế hay chứng nhận khoa học, mà họ thấy một nhà kho luôn sẵn sàng 500 – 1.000 tấn hàng dự trữ với chất lượng ổn định tuyệt đối.

Nếu bạn chỉ có vài tạ hàng, không ai dám bỏ tiền tỷ làm Marketing cho bạn, vì họ sợ đang bán tốt thì đứt hàng. Tôi chấp nhận mất 10 năm chuẩn bị một cái nền móng thật vững, hàng hóa phải đầy kho rồi mới dám bước ra nói chuyện với thế giới. Mình thuyết phục người ta không phải bằng lời nói hay, mà bằng sự yên tâm: Yên tâm về quy mô và yên tâm vì mình làm ăn khoa học, bài bản trong từng bao trà.

Đã có khoảnh khắc nào ông đối mặt với thất bại cận kề, và ông đã vượt qua áp lực tài chính đó như thế nào?

Nói thật, áp lực tài chính hay nguyên liệu là chuyện tôi đã quen và bước qua được. Nhưng có những khoảnh khắc tôi thấy nó đúng là chuyện 'sinh tử'. Tôi vốn là người làm kỹ thuật, yêu Cascara mà dấn thân chứ không phải dân bán hàng chuyên nghiệp, nên mọi thứ đều phải vừa làm vừa học.

Áp lực lớn nhất không phải là lúc hàng hỏng trong kho, mà là khi hàng đã sang đến Nhật. Bạn cứ tưởng tượng, người Nhật kỹ tính đến mức cực đoan. Chỉ cần một cái hộp trà bị dính một vết keo nhỏ do đóng gói không kỹ, họ có thể trả về cả một container hàng. Họ không ngồi đó để kiểm tra từng hộp cho mình đâu, thấy một cái lỗi là họ đánh giá cả lô hàng hỏng.

Lúc nhận tin đối tác đòi trả hàng, cảm giác kinh khủng lắm. Một container hàng đi đã tốn kém, bị trả về là chi phí đội lên gấp đôi, nhưng cái mất lớn nhất là mất uy tín, mất luôn mối làm ăn bao năm gây dựng. Đó là lúc tôi thấy mình đứng giữa ranh giới sống còn.

Để vượt qua, tôi không có cách nào khác là phải thành thật. Tôi trực tiếp thương lượng, giải thích mình là doanh nghiệp trẻ, cam kết lô thứ hai không bao giờ lặp lại lỗi đó. Nhưng quan trọng nhất là phải quay về "chỉnh" lại nhà máy. Tôi phải huấn luyện lại từng công nhân, làm cho anh em hiểu rằng một sơ suất nhỏ của họ không chỉ là hỏng một cái hộp, mà là cả nhà máy có thể phải đóng cửa. Chỉ khi cả tập thể cùng ý thức được điều đó, áp lực mới dần được hóa giải.

Việt Thảo Nhiên đang sở hữu công nghệ enzyme – probiotic được cấp bằng sáng chế tại Mỹ. Theo ông, công nghệ này đã thay đổi căn bản chất lượng và cách định vị trà Cascara Việt Nam trên thị trường quốc tế như thế nào?

Trên thế giới có nhiều cách chiết xuất như dùng hơi nước, dùng cồn, dầu hay CO2. Mỗi cách đều có điểm yếu: Cái thì quá đắt đỏ, cái rẻ tiền thì dễ lẫn tạp chất hóa học hoặc làm biến đổi dược tính của nguyên liệu.

Cái hay của công nghệ enzyme – probiotic mà chúng tôi sở hữu là tính 'lành'. Chúng tôi chiết xuất ở nhiệt độ thấp, chỉ khoảng 60 đến 65 độ C. Ở mức nhiệt này, các hoạt chất quý trong vỏ quả cà phê hầu như không bị biến đổi hay mất đi. Chúng tôi mất gần 12 năm nghiên cứu công thức lên men enzyme - probiotic, xây dựng dây chuyền sản xuất khép kín, đạt ISO 22000, tiêu chuẩn FDA (Hoa Kỳ) và Halal, đặc biệt sở hữu bằng sáng chế tại Mỹ cho công nghệ này. Nhờ vậy, khi so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường, trà của Việt Thảo Nhiên uống ngon hơn, vị chuẩn hơn và giữ được độ tinh khiết tuyệt đối.

Nhưng tham vọng của tôi với công nghệ này không chỉ dừng lại ở gói trà Cascara. Nếu có đủ thời gian nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi, tôi tin công nghệ enzyme có thể thay đổi hoàn toàn bộ mặt ngành nông nghiệp Việt Nam. Nó giúp chúng ta tận dụng mọi phụ phẩm nông sản một cách sạch nhất, hiệu quả nhất mà không cần đến hóa chất.

td3.jpg

Tính từ thời điểm Việt Thảo Nhiên bắt đầu làm việc với đối tác Nhật Bản đến ngày 21/5 - khi lô trà Cascara đầu tiên chính thức xuất khẩu, đâu là “cửa ải” khó khăn nhất mà Việt Thảo Nhiên đã phải vượt qua để nhận được cái gật đầu cho bản hợp đồng 5 năm?

Nhiều người nghĩ người Nhật 'khó tính', nhưng khi làm việc sâu tôi mới hiểu: Họ không khó, họ chỉ cần sự tin tưởng và tính ổn định.

Bài kiểm tra đầu tiên là niềm tin. Tôi thuyết phục họ bằng bằng sáng chế sở hữu trí tuệ của Mỹ. Khi có cái 'giấy thông hành' uy tín đó, họ mới bắt đầu đem sản phẩm đi test. Khi kết quả kiểm nghiệm đúng hệt như những gì mình cam kết, họ mới mở lòng để bàn chuyện đồng hành.

Nhưng cái khó nhất không phải là kỹ thuật, mà là bài toán giá thành. Đừng lầm tưởng Nhật Bản là nước thu nhập cao thì mình có thể bán giá cao. Họ tính toán cực kỳ chi ly vì các loại thuế phí của họ rất lớn. Để đổi lấy bản hợp đồng 5 năm, tôi phải chấp nhận một điều khoản khắc nghiệt: Không thay đổi giá trong suốt 3 năm đầu. Đây là một thử thách lớn về tài chính. Bạn nhìn xem, giá cà phê nguyên liệu vừa rồi nhảy vọt từ 50.000 đồng lên hơn 120.000 đồng/kg, nhưng nếu đã ký với Nhật, bạn không được phép tăng giá. Người Nhật giữ giá bán trong siêu thị rất ổn định, họ không tăng giá đột ngột để gây sốc cho người tiêu dùng. Để làm được điều đó, cả họ và mình đều phải có nguồn lực tài chính đủ mạnh để dự trữ hàng từ lúc giá thấp, lấy cái cũ bù cái mới, rồi mới điều chỉnh giá từ từ từ sau vài năm.

Chinh phục thị trường Nhật chính là chấp nhận cuộc chơi sòng phẳng về niềm tin và cam kết đi dài hạn cùng nhau, dù thị trường có biến động thế nào đi nữa.

Trong quá trình đưa Cascara ra thị trường quốc tế, điều gì khiến ông nhận ra sự khác biệt rõ nhất trong cách người tiêu dùng tại Nhật Bản, Mỹ và châu Âu tiếp cận sản phẩm này? Thị trường nào đã buộc ông phải thay đổi nhiều nhất về cách làm và vì sao?

Thị trường nào cũng buộc tôi phải thay đổi và cố gắng, nhưng mỗi nơi lại là một kiểu thử thách hoàn toàn khác nhau. Với Nhật Bản, họ là 'bài kiểm tra' đầu tiên về sự khó tính. Khi đã chinh phục được người Nhật, mình có một cái chứng chỉ niềm tin để tự tin đi các nước khác.

q3.jpg

Với Châu Âu, rào cản lớn nhất là pháp lý về thực phẩm mới. Mặc dù Cascara đã được EU cho phép thương mại từ năm 2018, nhưng họ chỉ cho làm trà khô. Khi Việt Thảo Nhiên đưa ra sản phẩm nước cốt quả cà phê, họ chặn lại ngay. Họ yêu cầu mình phải giải trình, chứng minh quy trình sản xuất và kiểm định độ lành tính lại từ đầu. Ở Châu Âu, không có chuyện 'làm chung', mỗi dòng sản phẩm mới đều là một cuộc chiến hồ sơ riêng biệt.

Với thị trường Mỹ, tôi lại học được bài học về chuỗi cung ứng và trách nhiệm pháp lý. Bạn không thể cầm hàng đến gõ cửa thẳng những gã khổng lồ như Costco. Họ chỉ làm việc thông qua các đại lý hoặc công ty Wholesale đã có mã (code) và có uy tín với họ. Tại sao? Vì liên quan đến trách nhiệm pháp lý. Nếu xảy ra sự cố an toàn thực phẩm, Costco cần một đơn vị tại Mỹ đứng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường cho người dân, chứ họ không thể tìm sang Việt Nam để kiện mình. Muốn vào Mỹ, bạn phải chấp nhận cuộc chơi trung gian hoặc có đại diện thương mại đủ thực lực pháp lý tại bản địa.

Việt Thảo Nhiên đang là đơn vị đầu tiên xuất khẩu trà túi lọc Cascara sang Nhật. Ông có lo ngại khi mình vừa mở ra con đường này, các “ông lớn” khác sẽ nhảy vào và cạnh tranh bằng quy mô vốn lớn hơn không? Lợi thế khác biệt của ông là gì để giữ vững vị thế người dẫn đầu?

Nếu hỏi tôi có sợ các 'ông lớn' nhảy vào cạnh tranh không, câu trả lời là hoàn toàn không. Thậm chí, tôi đang rất mong họ để tâm và tham gia vào cuộc chơi này.

Có ba lý do thực tế: Thứ nhất, thị trường thế giới quá khổng lồ. Một mình Việt Thảo Nhiên không bao giờ 'ăn' hết được miếng bánh từ Nhật Bản, Mỹ cho đến Châu Âu. Một tiếng nói của tôi không thể vang xa bằng mười tiếng nói của những tập đoàn có tiềm lực tài chính mạnh. Khi các ông lớn nhảy vào, họ sẽ làm Marketing, họ quảng bá rộng rãi, lúc đó cả thế giới sẽ biết Việt Nam có những sản phẩm chế biến sâu tinh xảo từ phụ phẩm. Khi thị trường ấm lên, tất cả cùng có lợi.

q4.jpg

Thứ hai, để cứu nông dân thì cần quy mô lớn. Hiện tại, nhiều nông sản Việt như thanh long có lúc chỉ bán được 3.000 - 5.000 đồng/kg, nhưng khi chúng tôi ứng dụng công nghệ để làm bột thanh long xuất đi Châu Âu, giá trị có thể lên tới 300.000 đồng/kg. Nếu có nhiều ông lớn cùng làm, họ có thể mua của nông dân với giá 20.000 đồng/kg – một mức giá đủ để bà con sống tốt. Tôi không muốn giữ công nghệ cho riêng mình, tôi muốn nó trở thành đòn bẩy để nâng giá trị nông sản Việt lên gấp nhiều lần.

Thứ ba, sự cạnh tranh thúc đẩy sự hoàn thiện. Khi nhiều người cùng làm, quy trình canh tác hữu cơ sẽ được chuẩn hóa đồng loạt. Lúc đó, không chỉ vỏ cà phê mà ngay cả hạt cà phê cũng được nâng cấp giá trị. Việt Thảo Nhiên đã đi trước một bước để khẳng định: Việt Nam có nhà khoa học giỏi, có sản phẩm đẳng cấp. Chúng tôi đã xây xong cái 'gốc' về công nghệ và sở hữu trí tuệ, nên nếu các ông lớn có vào, họ sẽ giúp chúng tôi mở rộng cái 'ngọn' nhanh hơn.

td4.jpg

Khi Cascara Việt Nam đã có mặt tại Nhật Bản, Mỹ và châu Âu, ông hình dung bước phát triển tiếp theo của sản phẩm này trong năm mới ra sao ?

Năm 2026, Cascara của Việt Thảo Nhiên sẽ không chỉ dừng lại ở những gói trà khô. Chúng tôi đang nắm giữ một lợi thế lớn hơn nhiều: Nước cốt quả cà phê chiết xuất sâu. Ứng dụng của nó khổng lồ đến mức có thể thay đổi cục diện ngành cà phê. Chúng tôi đã tìm thấy trong Cascara các hợp chất tự nhiên có khả năng thay thế hóa chất bảo quản tổng hợp. Hiện tại, chúng tôi đã bắt đầu cung cấp nguyên liệu này cho ngành bánh, ngành hải sản để thay thế những chất như Chlorine hay Natri Benzoat. Nó vừa rẻ hơn, vừa là bảo quản tự nhiên 100%. Các đối tác của chúng tôi đã dùng phụ gia này để xuất khẩu hàng đi Mỹ, Nhật và Châu Âu thành công. Đây mới là thị trường mà tôi nhắm tới.

Còn với người tiêu dùng trong nước, chiến lược của tôi là len lỏi vào thói quen hàng ngày. Thay vì đổ tiền tỷ vào Marketing theo cách truyền thống, tôi chọn đi theo con đường cộng sinh. Chúng tôi đang đàm phán để kết hợp với các chuỗi lớn như Bách Hóa Xanh, hệ thống Bưu điện hay các trạm sạc pin xe điện để đặt các ki-ốt trà và cà phê cao cấp. Chúng tôi sẽ mang nước cốt Cascara pha chế thành những thức uống ngon, bổ, giá thành hợp lý để thay thế cho các loại siro đầy hóa chất và đường.

Mỗi tháng, chúng tôi sẽ ra mắt 5 món mới để cung cấp cho các quán cà phê, đưa Cascara vào menu chính của họ. Mục tiêu của tôi rất thực tế: Biến Cascara từ một xu hướng thời thượng (trend) trở thành một thức uống tiêu chuẩn, một lựa chọn tự nhiên cho sức khỏe mỗi ngày. Chúng tôi chinh phục thị trường bằng giá trị thật, để khách hàng thấy rằng đây là nguyên liệu thiên nhiên thật và nó thực sự tốt cho mình.

td5.jpg

Trong xu thế kinh tế tuần hoàn, với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đâu là những sản phẩm và dịch vụ, cũng như những giá trị và tầm nhìn của công ty ông trong việc góp phần giải quyết các vấn đề môi trường và xã hội?

Về bản chất, cách chúng tôi tiếp cận kinh tế tuần hoàn rất thực tế. Thay vì bỏ đi, chúng tôi tách chiết tối đa các hoạt chất có giá trị từ Cascara và các phụ phẩm nông nghiệp bằng công nghệ enzyme. Phần còn lại không trở thành rác thải mà tiếp tục được sử dụng để làm nhựa sinh học, phân bón hoặc các vật liệu sinh học khác.

Cách làm này không chỉ áp dụng cho Cascara mà có thể mở rộng sang nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp khác. Mục tiêu là khai thác trọn vẹn một nguyên liệu trong nhiều vòng sử dụng, hạn chế tối đa chất thải và giảm phụ thuộc vào hóa chất tổng hợp.

Với chúng tôi, phát thải ròng bằng “0” không phải là tuyên bố mang tính hình thức, mà là hệ quả của việc sử dụng công nghệ để tận dụng tài nguyên đến cùng. Khi một nguyên liệu không còn bị bỏ phí, thì phát thải tự nhiên sẽ giảm, còn giá trị kinh tế và xã hội thì tăng lên.

Nhân dịp đầu năm mới, nếu gửi một thông điệp tới những người nông dân và doanh nghiệp trẻ đang loay hoay tìm lối đi mới, ông muốn nói điều gì từ chính hành trình 12 năm của mình?

Nhiều người coi câu chuyện của Việt Thảo Nhiên là một sự khích lệ, nhưng tôi muốn nó là một minh chứng thực tế: Những gì người khác nghĩ là không thể, thì mình đã làm được.

Kỳ vọng của tôi trong năm 2026 không chỉ là doanh số, mà là tạo ra một động lực cho cộng đồng Startup nông nghiệp. Tôi muốn gửi đến họ hai thông điệp trực diện:

Thứ nhất, khó khăn là bài học để hoàn thiện sản phẩm. Đừng mong chờ sự nhẹ nhàng. Bản chất của làm nông nghiệp công nghệ cao là phải cố gắng liên tục. Khi sản phẩm của bạn đủ tốt, đủ hoàn thiện, xã hội tự khắc sẽ công nhận và đền bù cho bạn bằng niềm tin và doanh thu.

q5.jpg

Thứ hai, kiên trì chính là tư thế đón đầu. Kinh tế đang khó khăn, mọi thứ có thể không như ý, nhưng đây chính là cuộc thanh lọc. Nếu bạn nản chí và dừng lại, khi cơ hội đến, bạn sẽ không đủ sức mà nắm lấy. Chúng tôi đã mất 12 năm chuẩn bị, từ lúc chưa ai biết Cascara là gì cho đến khi có hàng ngàn tấn trong kho. Đó không phải là may mắn, đó là sự chuẩn bị. Khi thị trường thế giới gọi tên sản phẩm xanh, chúng tôi đã có sẵn hàng để cung ứng ngay lập tức.

Lời nhắn nhủ của tôi cho năm mới rất đơn giản: Đừng nản. Ai cũng khó khăn như nhau cả thôi, nhưng người thắng cuộc là người giữ được tư thế sẵn sàng. Chỉ cần bạn không bỏ cuộc, kiểu gì cũng sẽ có đường ra. Việt Thảo Nhiên làm được, thì các bạn cũng sẽ làm được.

Tết là dịp người ta tìm về những giá trị nguyên bản. Nếu dùng một tính từ để miêu tả về "hồn cốt" của trà Cascara Việt Nam gửi đến độc giả nhân dịp đầu năm, ông sẽ chọn từ nào?

Nếu phải chọn một từ để nói về hồn cốt của Cascara, tôi chọn từ: Hồi sinh.

Ngày Tết là lúc chúng ta ngồi lại, gác lại những mệt mỏi của năm cũ để tìm về những giá trị nguyên bản nhất của bản thân. Cascara cũng vậy, nó là sự hồi sinh của một nguồn năng lượng tinh túy vốn bị lãng quên trong lớp vỏ quả cà phê.

Về mặt khoa học, khả năng chống oxy hóa cực cao của Cascara chính là sự tái tạo. Nó giúp cơ thể thanh lọc, phục hồi sức khỏe và làm chậm sự lão hóa, hay nói cách khác là giữ lại nét thanh xuân cho người dùng. Tôi kỳ vọng mỗi ly trà sẽ giúp độc giả cảm thấy cơ thể mình được làm mới, tràn đầy sức khỏe và sự trẻ trung để bắt đầu một hành trình mới.

Xin cám ơn những chia sẻ của ông!

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-02-11 13:02
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/doanh-nhan-nguyen-tuan-anh-nguoi-thoi-hon-vao-lop-vo-ca-phe-bien-thu-bo-di-thanh-vang-rong-o-my-nhat-1427938.html
Đừng bỏ lỡ
    Doanh nhân Nguyễn Tuấn Anh: Người thổi hồn vào lớp vỏ cà phê, biến thứ bỏ đi thành 'vàng ròng' ở Mỹ, Nhật
    POWERED BY ONECMS & INTECH