TS Nguyễn Quốc Việt: Không thể đạt tăng trưởng cao nếu không đổi mới chính sách tài khóa – tiền tệ
Chính sách tài khóa phải đóng vai trò dẫn dắt, còn chính sách tiền tệ cần trở thành bệ đỡ ổn định, cùng phối hợp linh hoạt để khơi thông nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
.jpg)
Nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động. Trong bối cảnh đó, trao đổi với phóng viên, TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách vĩ mô của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần đổi mới mạnh mẽ tư duy điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ, chuyển từ vai trò hỗ trợ phục hồi sang dẫn dắt và khơi thông các nguồn lực cho tăng trưởng.
.jpg)
Thưa ông, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều kỳ vọng về tăng trưởng cao. Ông nhìn nhận bối cảnh kinh tế hiện nay như thế nào?
Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một thời điểm mang tính bước ngoặt trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn 2021–2025 có thể xem là thời kỳ vượt khó, khi nền kinh tế phải đối mặt với những cú sốc chưa từng có từ đại dịch toàn cầu cũng như các biến động địa chính trị phức tạp.
Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng được kỳ vọng sẽ mở ra một không gian phát triển mới với khát vọng hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao. Thông điệp về mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà còn là một yêu cầu mang tính chiến lược nhằm giúp Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến vào một kỷ nguyên phát triển mới.
Để đạt được mục tiêu này, hệ thống điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, cần có sự chuyển dịch căn bản về tư duy. Nếu trong giai đoạn 2021–2024, hai chính sách này chủ yếu tập trung ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sau dịch, thì trong giai đoạn tới, chúng phải trở thành đòn bẩy chính sách mạnh mẽ để khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Nhìn lại giai đoạn vừa qua, ông đánh giá như thế nào về sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam?
Thực tế cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu khá tốt trước những cú sốc lớn. Năm 2021, tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,56% do tác động nặng nề của đại dịch. Tuy nhiên, đến năm 2022, nền kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng 8,02%.
Sau đó, tăng trưởng giảm xuống 5,05% vào năm 2023 do cầu thế giới suy yếu và những khó khăn nội tại. Bước sang năm 2024, các tín hiệu phục hồi tích cực đã quay trở lại khi tăng trưởng ước đạt 7,09%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 476,3 tỷ USD.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phục hồi về số lượng, chất lượng tăng trưởng vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm. Chẳng hạn, hệ số ICOR của khu vực nhà nước vẫn ở mức rất cao, khoảng 17,8, cho thấy chi phí để tạo ra một đơn vị tăng trưởng đang quá lớn. Điều này phản ánh mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn đầu tư và lao động giá rẻ đã dần chạm tới giới hạn.
Bên cạnh đó, tiêu dùng nội địa dù có tăng trưởng nhưng chưa thực sự bứt phá. Chẳng hạn, tăng trưởng tiêu dùng quý I/2025 đạt 7,45%, vẫn thấp hơn kỳ vọng cho cả năm.
Trong bức tranh đó, vai trò của chính sách tài khóa thời gian qua được thể hiện ra sao?
Có thể nói, trong giai đoạn 2021–2025, chính sách tài khóa đã đóng vai trò “trụ đỡ” rất quan trọng cho nền kinh tế.
Tổng thu ngân sách nhà nước trong cả giai đoạn ước đạt khoảng 9,5 triệu tỷ đồng, vượt xa mục tiêu 8,3 triệu tỷ đồng và cao hơn nhiều so với giai đoạn 2016–2020. Kết quả này có được nhờ các cải cách trong quản lý thuế, mở rộng cơ sở thu và thúc đẩy số hóa trong quản lý ngân sách.
.jpg)
Ở chiều chi tiêu, chính sách tài khóa cũng được điều hành theo hướng tiết kiệm chi thường xuyên để tăng nguồn lực cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Bội chi ngân sách được kiểm soát ở mức khoảng 3,1–3,2% GDP, thấp hơn ngưỡng Quốc hội cho phép.
Tuy nhiên, một điểm nghẽn lớn hiện nay là tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công, khiến nhiều nguồn lực tài khóa chưa phát huy được hiệu quả như kỳ vọng.
Dư địa tài khóa hiện nay của Việt Nam còn lớn hay không?
Tôi cho rằng dư địa tài khóa của Việt Nam hiện nay vẫn khá lớn, đặc biệt nếu nhìn vào chỉ tiêu nợ công.
Từ mức 42,7% GDP vào năm 2021, nợ công đã giảm xuống khoảng 34% vào năm 2024 và dự kiến dao động quanh 36–37% vào cuối năm 2025. Con số này thấp hơn nhiều so với trần 60% GDP và ngưỡng cảnh báo 55% theo quy định của Quốc hội.
Không chỉ vậy, cơ cấu nợ cũng đã cải thiện theo hướng bền vững hơn. Tỷ trọng nợ trong nước trong tổng dư nợ Chính phủ đã tăng lên hơn 70%, chủ yếu thông qua phát hành trái phiếu chính phủ kỳ hạn dài, với lãi suất tương đối thấp.
Điều này giúp giảm rủi ro tỷ giá và áp lực trả nợ trong ngắn hạn, đồng thời tạo dư địa để Chính phủ có thể mạnh dạn huy động nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam hoặc các dự án hạ tầng năng lượng và số hóa.
Trong khi tài khóa còn dư địa, chính sách tiền tệ hiện đang đối mặt những thách thức gì?
Khác với tài khóa, chính sách tiền tệ đang chịu nhiều áp lực hơn.
Tín dụng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo cho nền kinh tế. Điều này khiến hệ thống tài chính phụ thuộc khá lớn vào hệ thống ngân hàng và trở nên nhạy cảm với các cú sốc lãi suất hoặc biến động thị trường tài sản.
.jpg)
Tỷ lệ nợ xấu cũng đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt khi các chính sách giãn hoãn nợ như Thông tư 02 hết hiệu lực, buộc các ngân hàng phải ghi nhận rủi ro thực chất hơn.
Một vấn đề đáng chú ý là dòng vốn tín dụng đang tập trung khá lớn vào lĩnh vực bất động sản, chiếm khoảng 21% tổng dư nợ, trong khi giá nhà đất đã tăng lên mức rất cao, có nơi gấp 60 lần thu nhập của người lao động. Điều này tiềm ẩn nguy cơ bong bóng tài sản và rủi ro nợ xấu trong hệ thống tài chính.
.jpg)
Vậy theo ông, chính sách tài khóa trong giai đoạn tới cần thay đổi như thế nào?
Trong kỷ nguyên phát triển mới, chính sách tài khóa cần thực hiện một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy điều hành.
Thay vì chỉ đóng vai trò hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, tài khóa phải trở thành lực dẫn dắt tăng trưởng thông qua đầu tư vào hạ tầng chiến lược và các ngành kinh tế mới.
Việc duy trì nợ công ở mức quá thấp trong khi nhu cầu đầu tư hạ tầng rất lớn có thể dẫn tới lãng phí chi phí cơ hội. Do đó, Chính phủ có thể cân nhắc sử dụng hiệu quả hơn dư địa nợ công để đầu tư vào các dự án nền tảng như giao thông, năng lượng, hạ tầng số.
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tháo gỡ điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, bao gồm cải cách thể chế, giảm rủi ro thay đổi chính sách và nâng cao trách nhiệm thực thi của các cơ quan liên quan.
Còn với chính sách tiền tệ, đâu là ưu tiên trong giai đoạn tới?
Để hệ thống ngân hàng trở thành bệ đỡ cho tăng trưởng cao, cần thực hiện đồng thời nhiều giải pháp.
Trước hết là tiếp tục cơ cấu lại hệ thống ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu, đặc biệt là các tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, cần tăng vốn cho các ngân hàng thương mại nhà nước để nâng hệ số an toàn vốn lên trên 12% vào năm 2026.
Bên cạnh đó, việc mở rộng tín dụng cần đi kèm với kiểm soát chặt dòng vốn vào các lĩnh vực đầu cơ như bất động sản. Thay vào đó, tín dụng cần được định hướng nhiều hơn vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
.jpg)
Theo ông, sự phối hợp giữa hai chính sách này cần được thực hiện ra sao để đạt mục tiêu tăng trưởng cao?
Trong giai đoạn tới, sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ cần được thiết kế theo trạng thái “cân bằng động”.
Theo đó, chính sách tài khóa đóng vai trò kích thích cả tổng cung và tổng cầu thông qua đầu tư và cải cách thể chế, trong khi chính sách tiền tệ tập trung đảm bảo thanh khoản và ổn định giá cả.
Ngoài ra, Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu và cổ phiếu, để tạo thêm các kênh dẫn vốn dài hạn cho nền kinh tế. Việc xây dựng thị trường nợ trong nước vững mạnh không chỉ giúp Chính phủ huy động vốn cho các dự án chiến lược mà còn hỗ trợ khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn dài hạn.
Ông nhìn nhận thế nào về triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới?
Giai đoạn 2021–2025 đã cho thấy sức chống chịu đáng kể của nền kinh tế Việt Nam trước những cú sốc lớn. Tuy nhiên, để hiện thực hóa khát vọng phát triển trong giai đoạn mới, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào các mô hình và chính sách cũ.
Việc chuyển đổi chính sách tài khóa và tiền tệ từ hỗ trợ phục hồi sang đảm bảo nguồn lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, cải cách thể chế phải được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm khơi thông mọi nguồn lực xã hội và phát huy tiềm năng của tất cả các thành phần kinh tế trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Trân trọng cảm ơn ông!
