Tiêu điểm

TS Võ Xuân Hoài: Mỗi nhân tài cần gắn với một ngành hoặc bài toán cụ thể mà đất nước đang cần giải quyết

Ka Mi • 30/09/2026 14:09

TS Võ Xuân Hoài cho rằng, không nên xem mục tiêu 1.000 nhân tài là một chỉ tiêu thu hút đơn thuần về số lượng. Mỗi nhân tài cần được gắn với một ngành, một nhiệm vụ hoặc một bài toán cụ thể mà đất nước đang cần giải quyết.

mini.png

Sáng 24/8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”.

Theo Thông báo số 157-TB/VPTW, sau khi nghe báo cáo của Đảng ủy Chính phủ và ý kiến của các đại biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, thu hút và trọng dụng nhân tài gắn liền với sự hưng vong của mỗi quốc gia, dân tộc. Ngay từ khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhất quán quan điểm phải tìm người tài, trọng người tài và giao việc cho người tài để giữ vững độc lập, kiến thiết và phát triển đất nước.

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và bảo vệ nhân tài. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới đặt ra nhiệm vụ tiếp tục đổi mới cách tiếp cận, đặc biệt trong việc thu hút nhân tài cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn và công nghệ chiến lược.

Nhân sự kiện này, chúng tôi có cuộc trao đổi với TS Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), về chiến lược thu hút và trọng dụng nhân tài cho 10 ngành công nghiệp chiến lược và các sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam theo Quyết định 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ.

td1.png

Thông báo 157-TB/VPTW nhấn mạnh việc thu hút, trọng dụng nhân tài phải gắn với các ngành, lĩnh vực mũi nhọn và những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Theo ông, với yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp và công nghệ chiến lược hiện nay, Việt Nam đang cần thu hút những nhóm nhân tài nào và cần ưu tiên cho những bài toán cụ thể nào?

Chúng ta có thể thấy, điểm quan trọng trong Thông báo 157-TB/VPTW là chuyển từ tư duy “thu hút nhân tài” sang “thu hút, trọng dụng nhân tài cho những bài toán lớn của quốc gia”. Với yêu cầu phát triển 10 ngành công nghiệp và công nghệ chiến lược, Việt Nam cần xác định rõ cần những nhóm nhân tài nào, để giải quyết những bài toán gì và tạo ra những sản phẩm, năng lực nào cho đất nước.

Trước hết, xem xét ưu tiên 5 nhóm nhân tài. Một là, các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ đầu ngành có khả năng làm chủ công nghệ lõi, nhất là AI, bán dẫn, lượng tử, robot, UAV, công nghệ sinh học, vật liệu và năng lượng mới.

Hai là, đội ngũ kỹ sư và chuyên gia công nghiệp có khả năng đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dây chuyền và năng lực sản xuất, đây chính là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia và góp phần trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Ba là, nhân tài về phát triển sản phẩm, khởi nghiệp và quản trị doanh nghiệp công nghệ, có khả năng đưa công nghệ ra thị trường và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Bốn là, chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài, mang theo tri thức, kinh nghiệm và mạng lưới toàn cầu. Năm là, những người có khả năng dẫn dắt các đội ngũ công nghệ xuất sắc, bởi để giải quyết các bài toán lớn cần những tập thể mạnh chứ không chỉ những cá nhân xuất sắc.

1(1).png

Về bài toán ưu tiên, cần tập trung vào những lĩnh vực có tính nền tảng và khả năng lan tỏa cao. Chẳng hạn, với AI, không chỉ cần nhà nghiên cứu mô hình mà còn cần chuyên gia dữ liệu, hạ tầng tính toán và phát triển các sản phẩm AI cho doanh nghiệp, y tế, giáo dục, sản xuất.

Với bán dẫn, cần nhân tài cho toàn bộ chuỗi từ thiết kế, đóng gói, kiểm thử đến phát triển sản phẩm và xây dựng hệ sinh thái công nghiệp. Với robot, tự động hóa, UAV, công nghệ sinh học hay vật liệu mới, trọng tâm là đưa công nghệ vào các ngành kinh tế thực và hình thành sản phẩm có khả năng thương mại hóa.

Đây cũng là cách tiếp cận đang được thúc đẩy tại NIC, không chỉ kết nối nhân tài với Việt Nam, mà kết nối nhân tài với những bài toán cụ thể và hệ sinh thái để tạo ra kết quả.

Thông qua các Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và chuyên gia về bán dẫn, AI, lượng tử, an ninh mạng, UAV..., NIC kết nối chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế với doanh nghiệp, startup, viện trường và các chương trình công nghệ chiến lược.

Khi chuyên gia có thể cùng doanh nghiệp phát triển sản phẩm, công nghệ và cùng đào tạo thế hệ kỹ sư kế cận, giá trị tạo ra sẽ lớn hơn nhiều so với việc chỉ thu hút một cá nhân về làm việc đơn lẻ.

Vì vậy, chiến lược nhân tài cần được đặt trong tổng thể chiến lược đổi mới sáng tạo và phát triển công nghiệp. Không chỉ đặt câu hỏi “làm thế nào để người tài về Việt Nam”, mà quan trọng hơn là tạo ra những bài toán đủ lớn, môi trường đủ tốt và cơ chế đủ linh hoạt để người tài muốn đến, muốn hợp tác và có thể tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới và doanh nghiệp mới.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là thu hút được bao nhiêu nhân tài, mà là từ nguồn lực đó hình thành được các đội ngũ xuất sắc, làm chủ được các công nghệ quan trọng và tạo ra những sản phẩm, doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Quyết định 21/2026/QĐ-TTg xác định danh mục 10 công nghệ chiến lược, từ công nghệ số, AI, robot và tự động hóa, chip bán dẫn đến công nghệ năng lượng, hàng không - vũ trụ và đường sắt tốc độ cao. Theo ông, yêu cầu về nhân lực của những lĩnh vực này có điểm gì khác so với cách đào tạo và thu hút nhân lực công nghệ trước đây?

Có thể thấy, yêu cầu nhân lực cho các công nghệ chiến lược hiện nay không chỉ là cần nhiều hơn về số lượng, mà khác về chất và cách tổ chức nguồn lực.

Chẳng hạn, Chương trình quốc gia phát triển nhân lực AI đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm, đồng thời hình thành 10.000 nhân lực AI trình độ cao, trong đó có ít nhất 1.500 chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ AI trọng điểm.

Với bán dẫn, yêu cầu này được cụ thể hóa đến từng công đoạn. Quyết định 1017/QĐ-TTg đặt mục tiêu đào tạo 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên, trong đó khoảng 15.000 nhân lực cho thiết kế vi mạch và 35.000 cho sản xuất, đóng gói, kiểm thử và các công đoạn khác, đồng thời hình thành 5.000 nhân lực có chuyên môn sâu về AI phục vụ ngành bán dẫn. Điều đó cho thấy cách tiếp cận mới không thể chỉ là “đào tạo kỹ sư bán dẫn”, mà phải đào tạo đúng người cho đúng vị trí, công đoạn và bài toán công nghệ.

Đây cũng là điểm khác biệt căn bản so với cách đào tạo nhân lực công nghệ trước đây. Các công nghệ chiến lược đòi hỏi nhân lực liên ngành, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế và quan trọng hơn là đưa công nghệ từ nghiên cứu đến sản phẩm, thị trường.

Người làm thiết kế chip cần năng lực khác với người làm đóng gói, kiểm thử; chuyên gia AI không chỉ cần thuật toán mà còn phải hiểu dữ liệu, hạ tầng tính toán và bài toán của ngành ứng dụng. Vì vậy, người học cần được tiếp cận phòng thí nghiệm, công cụ công nghệ và các dự án thực tế ngay trong quá trình đào tạo.

Để làm được điều đó, cần đẩy mạnh hiệu quả mô hình 3 nhà: Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp. Nhà nước định hướng, tạo cơ chế và đầu tư hạ tầng; nhà trường, viện nghiên cứu xây dựng nền tảng tri thức và năng lực nghiên cứu; doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng chương trình, đào tạo thực hành đến tiếp nhận và phát triển nhân lực.

Cùng với đó, cần mở rộng sự tham gia của chuyên gia trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, không nhất thiết chỉ theo hình thức làm việc toàn thời gian mà có thể thông qua các nhóm nghiên cứu, dự án, phòng thí nghiệm hay chương trình cố vấn.

Thực tiễn từ các chương trình và mạng lưới chuyên gia mà NIC kết nối cho thấy, khi doanh nghiệp, viện trường và chuyên gia cùng tham gia vào một bài toán cụ thể, hiệu quả phát triển nhân lực sẽ rõ ràng hơn rất nhiều. Người học không chỉ được truyền đạt kiến thức mà còn có cơ hội tiếp tục tham gia nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm hoặc dự án doanh nghiệp, qua đó hình thành năng lực thực tế và khả năng phát triển lâu dài.

2.png

Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không chỉ là “đào tạo đủ người”, mà phải tạo được đúng đội ngũ, đúng kỹ năng và đúng môi trường để họ trưởng thành. Khi đào tạo, nghiên cứu và doanh nghiệp được kết nối thành một chu trình liên tục từ học tập – nghiên cứu – thử nghiệm – phát triển sản phẩm – thương mại hóa, nguồn nhân lực mới thực sự trở thành năng lực làm chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh của Việt Nam.

td2.png

Một trong những định hướng được đặt ra là thu hút khoảng 1.000 nhân tài theo từng ngành, lĩnh vực và nhiệm vụ chiến lược đến năm 2030, 2045. Theo ông, để những con số này tạo ra giá trị thực chất, việc xác định nhân tài và giao nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra nên được thiết kế như thế nào?

Chúng ta không nên xem mục tiêu 1.000 nhân tài là một chỉ tiêu thu hút đơn thuần về số lượng. Mỗi nhân tài cần được gắn với một ngành, một nhiệm vụ hoặc một bài toán cụ thể mà đất nước đang cần giải quyết. Vì vậy, việc xác định nhân tài không chỉ dựa vào bằng cấp hay chức danh, mà cần xem xét năng lực tạo ra kết quả, kinh nghiệm thực tiễn, khả năng dẫn dắt đội ngũ và mức độ phù hợp với nhiệm vụ chiến lược.

Từ đó, cách giao nhiệm vụ cũng cần thay đổi: ngay từ đầu phải xác định rõ bài toán, sản phẩm đầu ra, thời hạn, nguồn lực và quyền hạn tương ứng. Sản phẩm có thể là công nghệ được làm chủ, sáng chế, mô hình thử nghiệm, sản phẩm thương mại, doanh nghiệp công nghệ hoặc một đội ngũ mới được hình thành. Quan trọng là đánh giá nhân tài trên giá trị và tác động thực tế, thay vì chỉ trên số lượng công trình hay vị trí học thuật.

Thực tiễn từ hoạt động của NIC và các Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và chuyên gia cho thấy, những chương trình quy tụ được nhiều nhóm năng lực thường có khả năng tạo ra kết quả có sức lan tỏa. ViGen là một ví dụ: NIC phối hợp với Meta, AI for Vietnam, các chuyên gia và đối tác xây dựng bộ dữ liệu mở tiếng Việt, để cộng đồng cùng tham gia nghiên cứu, phát triển AI.

Giá trị ở đây không chỉ là một sản phẩm được hình thành, mà còn là nguồn lực để các nhóm nghiên cứu, startup và doanh nghiệp khác tiếp tục khai thác và phát triển. Vì vậy, khi đánh giá đóng góp của nhân tài, cần tính đến cả khả năng tạo ra kết quả và khả năng tạo ra hệ sinh thái, đội ngũ và những giá trị tiếp nối.

Do đó, cùng với mục tiêu thu hút 1.000 nhân tài, cần hình thành danh mục các bài toán và nhiệm vụ chiến lược để làm cơ sở thu hút và trọng dụng. Mỗi nhiệm vụ xác định rõ người cần tìm, kết quả cần đạt, nguồn lực được trao và cơ chế đánh giá. Khi đó, 1.000 nhân tài không chỉ là 1.000 cá nhân được thu hút, mà có thể trở thành 1.000 hạt nhân tạo ra các nhóm nghiên cứu, công nghệ, sản phẩm và doanh nghiệp mới, đóng góp vào năng lực dài hạn của đất nước.

Thông báo 157 cũng nhấn mạnh việc thu hút nhân tài phải đi cùng trọng dụng, giao nhiệm vụ cụ thể, quyền hạn, nguồn lực và đánh giá theo kết quả. Từ thực tiễn hoạt động của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, đâu là những yếu tố quyết định khả năng giữ chân chuyên gia giỏi sau khi thu hút được họ về Việt Nam?

Thực tiễn cho thấy, thu hút được nhân tài mới chỉ là bước đầu; quan trọng hơn là phải tạo được môi trường để họ phát huy năng lực, gắn bó lâu dài và tạo ra giá trị cụ thể cho đất nước.

Với những chuyên gia có năng lực và kinh nghiệm quốc tế, điều họ quan tâm không chỉ là thu nhập, mà còn là cơ hội được tham gia những bài toán có ý nghĩa, được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp và có điều kiện để biến năng lực thành kết quả. Đặc biệt, nhiều chuyên gia, nhà khoa học và người Việt Nam ở nước ngoài có khát vọng đóng góp cho đất nước; vấn đề là phải có cơ chế phù hợp để biến khát vọng đó thành những đóng góp thực chất.

Theo đó, để giữ chân nhân tài, cần đồng thời giải quyết bốn vấn đề: đúng bài toán, đủ quyền, đủ nguồn lực và ghi nhận đúng kết quả. Nhân tài cần được giao nhiệm vụ rõ ràng, gắn với những mục tiêu và bài toán chiến lược; có quyền chủ động tương xứng để triển khai; được tiếp cận các nguồn lực cần thiết về tài chính, hạ tầng, dữ liệu, đội ngũ và mạng lưới; đồng thời được đánh giá, đãi ngộ dựa nhiều hơn vào kết quả và tác động thực tế.

Đây cũng là cách giảm những “chi phí cơ hội” do thủ tục hành chính hoặc cơ chế chưa phù hợp gây ra đối với người có năng lực cao.

Vì vậy, bên cạnh chính sách thu nhập, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế theo hướng linh hoạt hơn trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ chuyên gia; đơn giản hóa thủ tục, tăng quyền tự chủ cho các tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, đồng thời tạo điều kiện để hình thành các nhóm và đội ngũ mạnh.

Một kinh nghiệm nhỏ từ NIC cho thấy, với một tổ chức có tính đặc thù cao về phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, hoạt động liên ngành và thường xuyên triển khai những nhiệm vụ mới, việc thu hút và giữ chân nhân sự không chỉ dựa vào chế độ mà còn phải tạo được môi trường để những người có năng lực được giao việc khó, được chủ động triển khai và nhìn thấy kết quả từ công việc của mình. NIC đồng thời kết nối đội ngũ này với chuyên gia, doanh nghiệp, viện trường và đối tác quốc tế để mở rộng không gian hợp tác và phát huy năng lực.

Về lâu dài, bài toán giữ chân nhân tài không chỉ là trả lương cao hơn, mà là tạo ra một môi trường có bài toán lớn để làm, có quyền để hành động, có nguồn lực để triển khai và có cơ chế ghi nhận xứng đáng. Khi đó, người tài không chỉ được thu hút về Việt Nam mà còn có động lực để gắn bó và cùng tạo ra những giá trị dài hạn cho đất nước.

td3.png

Đối với các công nghệ chiến lược có tốc độ thay đổi rất nhanh như AI, bán dẫn, robot, an ninh mạng hay lượng tử, Việt Nam nên cân bằng như thế nào giữa việc đào tạo nguồn nhân lực trong nước với thu hút chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài?

Đối với các công nghệ chiến lược có tốc độ thay đổi rất nhanh như AI, bán dẫn, robot, an ninh mạng hay lượng tử, Việt Nam cần xác định rõ rằng đào tạo trong nước là nền tảng lâu dài, còn thu hút chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực để bổ sung nhanh những năng lực mà trong nước còn thiếu. Vì vậy, đây không nên được xem là hai lựa chọn thay thế nhau, mà cần được triển khai đồng thời và kết nối với nhau.

3.png

Trước hết, cần tập trung xây dựng năng lực trong nước một cách có chiều sâu, từ đào tạo đại học, sau đại học đến đào tạo kỹ sư, chuyên gia theo từng vị trí và công đoạn của chuỗi giá trị công nghệ. Quan trọng hơn, đào tạo phải gắn với nghiên cứu, phòng thí nghiệm, doanh nghiệp và các bài toán thực tế để người học có khả năng làm việc với công nghệ mới, thay vì chỉ nắm kiến thức nền tảng. Đây là cơ sở để hình thành lực lượng nhân sự đủ lớn và khả năng tự chủ lâu dài.

Song song với đó, cần chủ động thu hút các chuyên gia quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài và những nhân sự đã có kinh nghiệm tại các trung tâm công nghệ lớn. Đối với nguồn lực này, không nhất thiết phải đặt yêu cầu tất cả phải về Việt Nam làm việc toàn thời gian.

Có thể thiết kế nhiều hình thức tham gia linh hoạt như dẫn dắt nhóm nghiên cứu, cố vấn công nghệ, tham gia dự án, đào tạo, chuyển giao tri thức hoặc cùng phát triển sản phẩm. Điều quan trọng là thu hút được tri thức, kinh nghiệm, mạng lưới và năng lực dẫn dắt, đồng thời tạo điều kiện để những nguồn lực này lan tỏa vào đội ngũ trong nước.

Một điểm rất quan trọng là phải tạo sự kết nối giữa hai nguồn lực. Chuyên gia quốc tế hay người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ được thu hút để “bổ sung nhân lực”, mà cần được đặt vào các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp, phòng thí nghiệm và chương trình công nghệ trong nước, qua đó hình thành quá trình “học hỏi – làm việc cùng – chuyển giao – làm chủ”. Khi đó, giá trị của một chuyên gia không chỉ nằm ở những gì họ trực tiếp thực hiện, mà còn ở khả năng giúp hình thành một thế hệ nhân lực mới.

Thực tiễn từ NIC và Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam cho thấy cách tiếp cận này có thể được triển khai khá linh hoạt: vừa xây dựng đội ngũ trong nước, vừa kết nối chuyên gia, nhà khoa học và người Việt Nam ở nước ngoài với các doanh nghiệp, viện trường và các chương trình công nghệ trong nước.

Với những lĩnh vực còn rất mới như lượng tử hay một số hướng công nghệ AI chuyên sâu, việc kết nối với các trung tâm và chuyên gia hàng đầu thế giới càng có ý nghĩa trong giai đoạn đầu.

Về lâu dài, mục tiêu không phải là lựa chọn giữa “đào tạo trong nước” hay “thu hút người giỏi từ bên ngoài”, mà là xây dựng một hệ sinh thái trong đó nhân lực trong nước ngày càng mạnh lên, đồng thời Việt Nam luôn có khả năng kết nối với nguồn tri thức và nhân tài toàn cầu. Đây chính là cách vừa bảo đảm năng lực tự chủ, vừa không bị giới hạn bởi nguồn lực nhân tài trong phạm vi quốc gia.

Nếu mục tiêu là đưa nhân tài trực tiếp tham gia giải quyết các bài toán lớn của doanh nghiệp và nền kinh tế, theo ông cần tăng cường cơ chế kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ chuyên gia như thế nào?

Muốn nhân tài thực sự tham gia giải quyết các bài toán lớn của doanh nghiệp và nền kinh tế, cần chuyển mạnh từ tư duy “kết nối để giao lưu, trao đổi” sang “kết nối để cùng giải quyết bài toán và tạo ra kết quả”.

Theo đó, doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí trung tâm trong việc xác định nhu cầu công nghệ và những vấn đề cần giải quyết; Nhà nước kiến tạo cơ chế, chính sách và nguồn lực; trường đại học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức, công nghệ; còn đội ngũ chuyên gia tham gia dẫn dắt, tư vấn và cùng triển khai giải pháp.

Một cơ chế hiệu quả cần bắt đầu từ danh mục các bài toán cụ thể thay vì bắt đầu từ việc tìm kiếm nhân tài một cách chung chung. Doanh nghiệp có thể đặt ra những bài toán về công nghệ, sản xuất, năng suất, chuyển đổi số, AI, vật liệu, bán dẫn...; trên cơ sở đó, Nhà nước hoặc các tổ chức trung gian kết nối đúng chuyên gia, nhóm nghiên cứu và nguồn lực phù hợp. Mỗi nhiệm vụ cần có mục tiêu, đầu ra, thời hạn và cơ chế đánh giá rõ ràng, đồng thời có đủ quyền chủ động và nguồn lực để đội ngũ được giao nhiệm vụ thực sự triển khai.

Bên cạnh đó, cần hình thành các cơ chế hợp tác linh hoạt và chia sẻ rủi ro. Không phải bài toán nào cũng có thể giải quyết bằng một hợp đồng nghiên cứu truyền thống; có những trường hợp cần thử nghiệm, làm mẫu, sử dụng phòng thí nghiệm, chia sẻ dữ liệu hoặc cùng đầu tư phát triển sản phẩm. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa để giảm khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng thực tế.

Thực tiễn của NIC cũng cho thấy vai trò của một tổ chức trung gian là rất quan trọng. NIC không thay thế doanh nghiệp, viện trường hay chuyên gia, mà tập trung kết nối đúng người với đúng bài toán, đúng nguồn lực và đúng đối tác, đồng thời tạo không gian để các bên cùng thử nghiệm và triển khai những sáng kiến mới. Cách tiếp cận này có thể mở rộng thông qua các mạng lưới chuyên gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm dùng chung và các chương trình hợp tác giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện trường.

Cuối cùng, cần đo lường hiệu quả của cơ chế kết nối bằng kết quả tạo ra, như công nghệ được làm chủ, sản phẩm mới, năng suất được cải thiện, doanh nghiệp được hình thành hoặc năng lực mới được xây dựng, thay vì chỉ tính số lượng hội thảo, biên bản hợp tác hay số chuyên gia được kết nối. Khi mỗi bài toán có người chịu trách nhiệm, có nguồn lực và có đầu ra cụ thể, nhân tài sẽ có nhiều cơ hội hơn để chuyển tri thức thành giá trị thực tế cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

td4.png

Các ngành công nghiệp và công nghệ chiến lược được kỳ vọng trở thành những động lực tăng trưởng mới. Theo ông, đóng góp của nhóm ngành này vào tăng trưởng kinh tế trong những năm tới nên được nhìn nhận qua những chỉ tiêu nào: năng suất, giá trị gia tăng, xuất khẩu, năng lực công nghệ hay khả năng hình thành các ngành kinh tế mới?

Theo tôi, đóng góp của các ngành công nghiệp và công nghệ chiến lược không nên được nhìn nhận chỉ qua một chỉ tiêu như quy mô doanh thu hay xuất khẩu, mà cần đánh giá theo một chuỗi tác động rộng hơn, từ năng suất, giá trị gia tăng, năng lực công nghệ đến khả năng hình thành những ngành kinh tế mới.

Trước hết, cần nhìn vào khả năng nâng cao năng suất của toàn nền kinh tế. Đây là tác động quan trọng nhất, bởi giá trị của AI, robot, bán dẫn hay các công nghệ chiến lược không chỉ nằm ở doanh thu của chính ngành đó, mà còn ở việc chúng giúp các ngành sản xuất, logistics, tài chính, nông nghiệp, y tế... giảm chi phí, nâng chất lượng và tạo ra nhiều giá trị hơn với cùng một nguồn lực. Nghị quyết 57-NQ/TW cũng đặt mục tiêu nâng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng lên trên 55% vào năm 2030.

Thứ hai là giá trị gia tăng và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị. Một ngành được coi là thực sự tạo ra động lực tăng trưởng khi Việt Nam không chỉ tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng thấp, mà từng bước làm chủ thiết kế, công nghệ, R&D, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng tri thức cao.

Thứ ba là năng lực công nghệ và mức độ tự chủ. Cần đo xem Việt Nam đã làm chủ được công nghệ nào, hình thành được bao nhiêu sản phẩm, bằng sáng chế, doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ chuyên gia có khả năng phát triển công nghệ tiếp theo. Đây là điểm rất quan trọng với các ngành chiến lược, bởi mục tiêu cuối cùng không chỉ là thu hút đầu tư hay mở rộng sản xuất, mà phải từng bước nâng cao năng lực công nghệ của nền kinh tế.

Thứ tư là khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường, trong đó xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao là một chỉ báo quan trọng. Tuy nhiên, cần nhìn cả chất lượng của xuất khẩu: doanh nghiệp Việt Nam đang đóng góp bao nhiêu vào giá trị của sản phẩm, làm chủ bao nhiêu công đoạn và có khả năng tạo ra sản phẩm mang thương hiệu, công nghệ của mình hay không.

Và cuối cùng, một chỉ tiêu có ý nghĩa dài hạn là khả năng hình thành những ngành kinh tế, thị trường và mô hình kinh doanh mới. Khi AI, robot, lượng tử, công nghệ sinh học hay UAV phát triển, giá trị không chỉ nằm trong bản thân công nghệ mà còn ở những doanh nghiệp, dịch vụ và chuỗi cung ứng mới được hình thành xung quanh nó.

4.png

Vì vậy, có thể nhìn nhận đóng góp của các ngành chiến lược theo một logic: từ công nghệ tạo ra năng suất, từ năng suất tạo ra giá trị gia tăng, từ giá trị gia tăng hình thành năng lực cạnh tranh, và từ năng lực cạnh tranh tạo ra những ngành kinh tế mới. Quan trọng nhất là phải đo được kết quả thực chất ở từng giai đoạn, thay vì chỉ đo quy mô đầu tư hay số lượng dự án. Đây cũng là yêu cầu đang được đặt ra trong triển khai các công nghệ chiến lược: phải gắn với mục tiêu cụ thể về công nghệ được làm chủ, sản phẩm hình thành, khả năng xuất khẩu và đóng góp cho tăng trưởng.

Với vai trò tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, nếu phải xác định một số ưu tiên về chính sách nhân tài trong giai đoạn 2026-2030 để phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và tạo thêm động lực tăng trưởng, ông cho rằng đâu là những việc cần được triển khai trước?

Nếu phải xác định một số ưu tiên trong giai đoạn 2026–2030, tôi cho rằng trước hết cần chuyển mạnh từ tư duy “phát triển nguồn nhân lực nói chung” sang “phát triển và trọng dụng nhân tài cho những bài toán chiến lược cụ thể”. Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác định nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài là một trong những trọng tâm; đồng thời yêu cầu gắn việc thu hút chuyên gia với nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước.

Theo đó, tôi cho rằng có bốn việc cần được ưu tiên. Thứ nhất, xác định rõ nhu cầu nhân tài theo từng công nghệ, ngành và bài toán chiến lược, thay vì chỉ đặt mục tiêu về số lượng. Mỗi lĩnh vực như AI, bán dẫn, lượng tử, robot hay an ninh mạng cần xác định rõ đang thiếu loại nhân lực nào, ở trình độ nào và cần họ giải quyết những nhiệm vụ gì.

Thứ hai, tạo cơ chế đủ hấp dẫn và đủ linh hoạt để thu hút, sử dụng và giữ chân người tài. Đây không chỉ là câu chuyện về thu nhập, mà còn là quyền chủ động, điều kiện làm việc, khả năng tiếp cận hạ tầng và dữ liệu, tuyển cộng sự, triển khai nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ và cơ chế ghi nhận kết quả. Đặc biệt, cần giảm những rào cản hành chính không phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, xây dựng các nhóm và đội ngũ mạnh thay vì chỉ thu hút từng cá nhân xuất sắc. Một chuyên gia giỏi chỉ thực sự tạo ra tác động lớn khi được đặt trong một đội ngũ có các kỹ năng bổ trợ, có doanh nghiệp và viện trường cùng tham gia, có hạ tầng và nguồn lực để triển khai. Vì vậy, chính sách nhân tài cần hướng tới hình thành những “hạt nhân” có khả năng dẫn dắt các chương trình, phòng thí nghiệm, doanh nghiệp và nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Thứ tư, phát huy hiệu quả hơn nguồn lực chuyên gia và Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam đã được hình thành. Đây là một nguồn lực rất quý mà Việt Nam đã có, bao gồm các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân công nghệ và người Việt Nam ở nước ngoài đang làm việc tại nhiều trung tâm khoa học, công nghệ lớn trên thế giới.

Thay vì chỉ tập trung thu hút thêm người về Việt Nam, cần có cơ chế để mạng lưới này tham gia trực tiếp vào các bài toán quốc gia thông qua các chương trình nghiên cứu, tư vấn chính sách, đào tạo, chuyển giao tri thức, kết nối đầu tư và cùng phát triển sản phẩm. Đồng thời, cần kết nối hiệu quả hơn mạng lưới chuyên gia với doanh nghiệp, viện trường và các chương trình công nghệ chiến lược, để tri thức và kinh nghiệm quốc tế thực sự được chuyển hóa thành năng lực trong nước.

Từ góc độ NIC, đây cũng là cách tiếp cận có ý nghĩa thực tiễn: nhân tài cần được đặt vào đúng bài toán, trong một đội ngũ đủ mạnh và một môi trường đủ quyền, đủ nguồn lực để tạo ra kết quả. Nhưng ở tầm quốc gia, điều quan trọng hơn là phải hình thành được một cơ chế để Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các mạng lưới chuyên gia cùng tham gia vào quá trình này.

Nếu làm được những việc đó trong giai đoạn 2026–2030, chính sách nhân tài sẽ không chỉ nhằm “có thêm người giỏi”, mà hướng tới mục tiêu lớn hơn là hình thành những đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm mới, phát triển doanh nghiệp mới và đóng góp trực tiếp vào các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Đây cũng là cách biến nguồn lực con người thành năng lực công nghệ và cuối cùng thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ!

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-09-30 14:09
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/ts-vo-xuan-hoai-moi-nhan-tai-can-gan-voi-mot-nganh-hoac-bai-toan-cu-the-ma-dat-nuoc-dang-can-giai-quyet-1468730.html
Đừng bỏ lỡ
    TS Võ Xuân Hoài: Mỗi nhân tài cần gắn với một ngành hoặc bài toán cụ thể mà đất nước đang cần giải quyết
    POWERED BY ONECMS & INTECH