Có đất, có cây, có nhà máy nhưng vẫn khó vay ngân hàng: 'Nút thắt' của doanh nghiệp nông nghiệp
"Chúng tôi có thể có vài trăm tấn hàng hóa nông sản trụ giá nhiều chục tỷ đồng và về bản chất đó cũng là tài sản. Nhưng để dùng số nông sản đó làm tài sản bảo đảm cho một khoản vay thì trên thực tế rất khó", ông Bùi Khánh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Musa Pacta, chia sẻ.

Doanh nghiệp nông nghiệp đang đứng trước cơ hội lớn từ chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm xanh. Tuy nhiên, theo ông Bùi Khánh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Musa Pacta, khó khăn về vốn, tài sản thế chấp, bảo hiểm nông nghiệp và liên kết vùng nguyên liệu vẫn đang là những “nút thắt” lớn cản trở doanh nghiệp mở rộng sản xuất.
Musa Pacta đang tập trung phát triển các sản phẩm từ cây chuối, trong đó chủ lực là sợi chuối và bột chuối xanh. Đây cũng là doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam sản xuất sợi chuối ở quy mô công nghiệp.

Thưa ông, Musa Pacta hiện đang tập trung sản xuất những sản phẩm gì?
Ông Bùi Khánh Dũng: Chúng tôi là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Hiện nay, sản phẩm chủ lực của công ty là sợi chuối và bột chuối xanh, có thể nói rộng hơn là các sản phẩm được phát triển từ cây chuối.
Đặc biệt, sợi chuối là một sản phẩm mà Musa Pacta đã tập trung nghiên cứu và sản xuất ở quy mô công nghiệp. Chúng tôi là doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam sản xuất sợi chuối và hiện nay cũng là một trong những doanh nghiệp lớn về tiêu thụ, phát triển các sản phẩm từ loại sợi này.
Trong quá trình hoạt động, chuyển đổi số đóng vai trò rất lớn. Công nghệ số được chúng tôi đưa vào nhiều khâu, từ công tác ươm cây giống, trồng cây giống, chăm sóc, đưa cây ra ruộng cho đến quá trình khai thác và chế biến.
Việc ứng dụng công nghệ giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, nâng cao năng suất và từng bước hình thành một quy trình sản xuất có tính liên kết và kiểm soát cao hơn.
Theo ông, doanh nghiệp nông nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang gặp những khó khăn gì?
Trước hết, những khó khăn này cũng nằm trong nhóm khó khăn chung của doanh nghiệp Việt Nam, từ quy mô vốn, quy mô đầu tư cho đến nguồn nhân lực có khả năng tiếp quản và quản trị công nghệ.
Đầu tư cho công nghệ số không chỉ là mua một phần mềm hay một thiết bị, mà còn đòi hỏi doanh nghiệp phải có đội ngũ nhân sự đủ khả năng vận hành, quản trị và khai thác dữ liệu.
Tuy nhiên, tôi cho rằng cơ hội đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa lại rất lớn. Với chuyển đổi số, doanh nghiệp có thể đi thẳng từ sản xuất đến thị trường, trực tiếp tiếp cận người tiêu dùng mà không nhất thiết phải đi qua quá nhiều tầng trung gian.
Đây là một lợi thế rất lớn. Doanh nghiệp có thể nhanh chóng tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, nắm bắt nhu cầu của thị trường và từ đó điều chỉnh sản phẩm cũng như phương thức kinh doanh.
Với Musa Pacta, chúng tôi hoạt động trong một lĩnh vực khá mới. Đây là doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam sản xuất sợi chuối nên tất nhiên có những khó khăn riêng về thị trường. Nhưng thực tế cho thấy thị trường thế giới lại đánh giá và mua sản phẩm của chúng tôi nhiều hơn thị trường nội địa. Điều đó cho thấy tiềm năng của sản phẩm nông nghiệp xanh, sản phẩm tuần hoàn và sản phẩm từ nguyên liệu tự nhiên là rất lớn.

Một vấn đề được nhiều doanh nghiệp quan tâm hiện nay là mặt bằng lãi suất. Với doanh nghiệp nông nghiệp, việc tiếp cận vốn hiện nay có khó khăn như thế nào, thưa ông?
Đây là một áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp.
Khó khăn trước hết nằm ở vấn đề tài sản bảo đảm. Đối với doanh nghiệp nông nghiệp, tài sản lớn nhất nhiều khi lại nằm trên đất, cụ thể là cây cối ở ngoài ruộng.
Việc chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với những tài sản đó cũng không đơn giản.
Ví dụ, cây trồng có thể là tài sản của doanh nghiệp nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc mảnh đất mà cây đang được trồng lại thuộc về người khác. Vì vậy, việc sử dụng tài sản đó để thế chấp ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn.
Chúng tôi có thể có vài trăm tấn hàng hóa nông sản trụ giá nhiều chục tỷ đồng và về bản chất đó cũng là tài sản. Nhưng để dùng số nông sản đó làm tài sản bảo đảm cho một khoản vay thì trên thực tế rất khó. Tiếp theo, chúng tôi là một doanh nghiệp có ứng dụng công nghệ và sáng chế rất nhiều. Cụ thể chúng tôi có 5 bằng độc quyền sở hữu trí tuệ. Chúng tôi có thể dùng “tài sản” đó để thế chấp cho khoản vay tại ngân hàng?
Bên cạnh đó là mặt bằng lãi suất. Hiện nay gần như chưa có một cơ chế thực sự riêng biệt về lãi suất hoặc cơ chế vay dành cho doanh nghiệp nông nghiệp. Chúng tôi gần như phải vay với điều kiện tương tự các doanh nghiệp thương mại khác, trong khi đặc thù của nông nghiệp là chu kỳ sản xuất dài, chịu ảnh hưởng lớn bởi thời tiết, dịch bệnh và giá cả thị trường.
Hiện doanh nghiệp đang vay với mức lãi suất khoảng bao nhiêu?
Hiện nay chúng tôi có một số khoản vay. Khoản vay thấp nhất tại ngân hàng nông nghiệp khoảng 7,8%/năm. Trong khi đó, một số khoản vay thương mại tại các ngân hàng thương mại khác ở mức gần 16%/năm.
Đây là mức lãi suất tạo áp lực rất lớn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đang cần vốn để mở rộng vùng nguyên liệu và đầu tư sản xuất.
Thủ tướng vừa làm việc với các ngân hàng thương mại và yêu cầu giảm lãi suất cho doanh nghiệp. Ông kỳ vọng gì từ động thái này?
Thực tế, nhu cầu vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất lớn.
Vì vậy, nếu lãi suất vay được giảm dù chỉ một phần nhỏ thì cũng là điều rất quý đối với doanh nghiệp. Chúng tôi kỳ vọng việc giảm lãi suất sẽ được thực hiện sớm và thực chất, để doanh nghiệp có thêm nguồn lực đầu tư vào sản xuất.
Với doanh nghiệp nông nghiệp, vốn không chỉ phục vụ hoạt động kinh doanh ngắn hạn mà còn cần cho việc phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư cơ sở hạ tầng và xây dựng chuỗi sản xuất trong nhiều năm.

Nếu được kiến nghị với cơ quan quản lý, ông cho rằng cần ưu tiên chính sách nào để doanh nghiệp nông nghiệp dễ tiếp cận vốn hơn?
Tôi có hai kiến nghị lớn.
Thứ nhất là về bảo hiểm nông nghiệp.
Hiện nay, bảo hiểm nông nghiệp vẫn chưa thực sự đi vào đời sống sản xuất nông nghiệp. Người làm nông vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết.
Làm nông nghiệp là phải đối diện với những rủi ro rất lớn từ thời tiết, dịch bệnh. Trong khi đó, một cơ chế bảo hiểm nông nghiệp thiết thực, cụ thể và có khả năng chia sẻ rủi ro cho người sản xuất vẫn chưa thực sự phát huy được vai trò.
Nếu sản xuất nông nghiệp được bảo hiểm phù hợp, doanh nghiệp và người nông dân sẽ mạnh dạn đầu tư hơn, đồng thời ngân hàng cũng có thêm cơ sở để đánh giá rủi ro khi cấp tín dụng.
Mỗi năm nhà nước phải chi hàng trăm, hàng ngàn tỷ để hỗ trợ sau thiên tai mà chủ yếu là cho nông dân, nông nghiệp. Nếu doanh nghiệp bảo hiểm nông nghiệp có thể sử dụng số tiền đó như một nguồn bảo lãnh một nguồn kết dư thì sẽ là một nguồn lực rất lớn và hoàn toàn minh bạch.
Thứ hai là chính sách vốn vay.
Musa Pacta là doanh nghiệp có sản phẩm và quy trình sản xuất theo hướng tuần hoàn khép kín, không rác thải, không phát thải. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế kinh tế xanh và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, hiện chúng ta chưa có một cơ chế thực sự riêng cho những doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh.
Tôi cho rằng cần có những chính sách tín dụng phù hợp hơn với những mô hình này, bởi đây không chỉ là câu chuyện hỗ trợ một doanh nghiệp mà còn là thúc đẩy một mô hình sản xuất mới.

Bộ Tài chính đang đề xuất giảm 30% số thuế phải nộp cho một số hộ kinh doanh và doanh nghiệp có quy mô phù hợp. Ông đánh giá thế nào về đề xuất này?
Thực sự vài năm trở lại đây doanh nghiệp gặp khá nhiều khó khăn.
Ngay cả với những doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu như chúng tôi, những biến động từ chiến tranh, xung đột tại nhiều khu vực trên thế giới cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong bối cảnh đó, việc giảm mức thuế phải chịu sẽ là một hỗ trợ rất lớn và rất cần thiết, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí là doanh nghiệp siêu nhỏ.
Musa Pacta có nhiều chi nhánh và đặc thù hoạt động nông nghiệp nên chúng tôi liên kết với nhiều hợp tác xã nông nghiệp tại các địa phương. Có những hợp tác xã quy mô vốn chỉ vài tỷ đồng, thuộc nhóm doanh nghiệp rất nhỏ.
Nếu được giảm phần thuế phải nộp, nguồn lực này có thể được giữ lại để tái đầu tư.
Vậy nếu chính sách giảm thuế được áp dụng, doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng nguồn lực này vào đâu?
Nhu cầu phát triển vùng trồng và mở rộng thị trường của chúng tôi rất lớn.
Tuy nhiên, khó khăn về vốn đang kìm hãm tốc độ phát triển vùng trồng. Nếu được giảm thuế, cùng với việc giảm lãi suất trên cơ sở các chính sách hỗ trợ phù hợp, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư vào sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu.
Đây là cách nguồn lực chính sách có thể quay trở lại nền kinh tế thông qua đầu tư sản xuất, thay vì chỉ hỗ trợ doanh nghiệp trong ngắn hạn.

Ông đang liên kết với nhiều hợp tác xã tại các địa phương. Theo ông, cần làm gì để tăng sức mạnh liên kết vùng và hỗ trợ tốt hơn cho các hợp tác xã?
Hiện tôi có tham gia, đồng thời thành lập hoặc liên kết với khoảng 5 hợp tác xã nông nghiệp tại các địa phương như Hải Dương, Lào Cai, Hà Giang, Huế, Kiên Giang.
Nhưng thực tế cho thấy liên kết giữa các hộ nông dân, vùng trồng và hợp tác xã hiện vẫn rất lỏng lẻo.
Nhiều khi đây gần như là một mối quan hệ một chiều. Doanh nghiệp giống như “có tóc” trong mối quan hệ này và gần như là người chịu thiệt trong những rủi ro từ pháp lý đến thực tế kinh doanh.
Ví dụ, doanh nghiệp có thể ký hợp đồng tiêu thụ với nông dân, thậm chí cung cấp giống và cam kết về giá. Nhưng chỉ cần giá nông sản trên thị trường tăng thêm 500 đồng hoặc 1.000 đồng/kg thì ngay lập tức doanh nghiệp có thể không còn nguyên liệu.
Trong khi nhà máy đã đầu tư, xưởng đã có, máy móc đã sẵn sàng. Khi giá nông sản thấp thì doanh nghiệp có nguyên liệu, nhưng khi giá tăng thì lại không có nguyên liệu. Điều đó cho thấy mối quan hệ hiện nay rất lỏng lẻo.
Về bản chất, việc dùng các quy định pháp lý để “trói” người nông dân vào hợp đồng cũng không thực sự khả thi.
Thứ nhất, hiểu biết pháp luật và khả năng thực thi hợp đồng của người dân còn hạn chế. Thứ hai, khả năng chịu trách nhiệm pháp lý của từng hộ nông dân cũng rất thấp.
Nếu xảy ra tranh chấp chỉ vài triệu đồng, chi phí và thời gian để doanh nghiệp theo đuổi một vụ kiện đôi khi còn lớn hơn rất nhiều giá trị tranh chấp. Vì vậy, cơ chế hiện tại khó tạo ra một liên kết thực sự bền vững.
Theo tôi, thay vì tìm cách ràng buộc người dân bằng pháp lý, cần có cơ chế để doanh nghiệp được chủ động đầu tư vào vùng nguyên liệu.
Ví dụ, doanh nghiệp có thể tự đầu tư hoặc đầu tư một phần để chủ động khoảng 30-50% vùng nguyên liệu. Khi đó, doanh nghiệp sẽ có một lượng nguyên liệu nhất định và không bị phụ thuộc hoàn toàn vào biến động giá trên thị trường.
Nếu không có người dân cung cấp nguyên liệu ở một thời điểm nào đó, doanh nghiệp vẫn có phần nguyên liệu do mình chủ động. Khi đó sức ép đối với cả doanh nghiệp và hộ nông dân sẽ nhẹ nhàng hơn.

Câu chuyện đất đai hiện nay có phải là một trong những trở ngại lớn nhất khi doanh nghiệp muốn phát triển vùng nguyên liệu?
Đúng vậy. Hiện có một số cơ chế về tích tụ ruộng đất, nhưng trên thực tế tại các địa phương, doanh nghiệp như chúng tôi chủ yếu vẫn phải thuê lại đất của người dân.
Để làm một dự án nông nghiệp dài hạn, chẳng hạn 50 năm, với quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc triển khai cũng rất khó khăn.
Trong khi đó, để làm dự án có thể mất vài năm cho các thủ tục, chưa kể vốn đầu tư bỏ ra trong thời gian đó.
Vì vậy, cách nhanh nhất trên thực tế vẫn là thuê lại đất của người dân. Nhiều nơi người dân bỏ đất lên thành phố hoặc đi làm tại các nhà máy, doanh nghiệp có thể thuê lại những diện tích đó để sản xuất.
Nhưng vấn đề là giá thuê có thể khá cao và quan trọng hơn, tài sản trên đất xét đến cùng lại không phải tài sản của doanh nghiệp.
Thời hạn thuê cũng rất ngắn. Có trường hợp chỉ thuê được từng năm.
Trong khi một cây chuối có vòng đời sản xuất kéo dài nhiều năm, doanh nghiệp cần có sự ổn định của vùng trồng trong thời gian dài mới có thể đầu tư bài bản.
Đây là một khó khăn rất lớn khi làm việc với ngân hàng.
Doanh nghiệp có thể đầu tư hệ thống nước, cây trồng và toàn bộ cơ sở vật chất trên một khu đất. Số tiền đầu tư có thể lên tới hàng trăm triệu đồng trên một đơn vị diện tích. Nhưng khi ngân hàng hỏi giấy tờ chứng minh tài sản đó thuộc về doanh nghiệp thì doanh nghiệp lại không có đủ giấy tờ pháp lý để chứng minh.
Đây là một trong những điểm nghẽn lớn nhất đối với tín dụng nông nghiệp hiện nay.

Theo ông, nếu giải quyết được bài toán đất đai và vốn, đâu sẽ là cơ hội lớn nhất đối với doanh nghiệp nông nghiệp?
Tôi cho rằng đó là khả năng hình thành những vùng nguyên liệu quy mô lớn và ổn định.
Khi doanh nghiệp chủ động được một phần vùng nguyên liệu, chúng ta mới có thể đầu tư sâu vào công nghệ, chuyển đổi số, chế biến và xây dựng chuỗi giá trị.
Với Musa Bacta, chúng tôi không chỉ muốn bán nguyên liệu mà muốn phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao từ cây chuối, từ sợi chuối đến bột chuối xanh và những sản phẩm tiếp theo.
Đây cũng là hướng đi của kinh tế tuần hoàn. Một cây trồng có thể được khai thác nhiều giá trị khác nhau thay vì chỉ bán một sản phẩm thô.
Tôi cho rằng nếu có cơ chế phù hợp để doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu, tiếp cận vốn dài hạn với lãi suất hợp lý và được hỗ trợ về bảo hiểm nông nghiệp, thì doanh nghiệp sẽ có điều kiện để đầu tư dài hạn hơn.
Khi đó, người nông dân cũng được hưởng lợi bởi họ có đầu ra ổn định hơn, còn doanh nghiệp có nguyên liệu ổn định để phát triển nhà máy và thị trường.
Đây mới là nền tảng để hình thành một chuỗi liên kết nông nghiệp bền vững.
Trân trọng cảm ơn ông!