Vĩ mô

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Doanh nghiệp không thể lớn nếu cứ phải lo rủi ro thể chế

Khúc Văn • 13/10/2026 06:30

TS Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, muốn doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn và vươn lên quy mô lớn, điều quan trọng không chỉ là nguồn vốn hay thị trường mà trước hết phải giảm rủi ro thể chế, bảo đảm pháp luật rõ ràng, ổn định và được thực thi nhất quán.

mini.png

Trong gần 40 năm Đổi mới, đội ngũ doanh nhân Việt Nam đã từng bước lớn lên cùng nền kinh tế thị trường, từ những doanh nghiệp quy mô nhỏ đến sự xuất hiện của các tập đoàn tư nhân hoạt động trong nhiều lĩnh vực và vươn ra thị trường quốc tế. Cùng với quá trình phát triển của khu vực tư nhân, vị thế và vai trò của doanh nhân trong nền kinh tế cũng ngày càng được nhìn nhận rõ nét hơn.

Trong giai đoạn phát triển mới, khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, yêu cầu đối với đội ngũ doanh nhân cũng trở nên lớn hơn. Không chỉ tạo ra của cải và việc làm, doanh nghiệp tư nhân được kỳ vọng tham gia sâu hơn vào đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, phát triển hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Tuy nhiên, để hình thành những doanh nghiệp đủ lớn, có khả năng cạnh tranh quốc tế và dẫn dắt các chuỗi giá trị, Việt Nam vẫn phải giải quyết nhiều vấn đề về thể chế, môi trường kinh doanh, năng lực quản trị và khát vọng phát triển của doanh nghiệp.

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội về vai trò của doanh nhân trong chặng đường phát triển mới, những thay đổi cần thiết về thể chế để doanh nghiệp tư nhân lớn lên và yêu cầu đặt ra đối với thế hệ doanh nhân Việt Nam trong thời gian tới.

td1.png

Thưa TS Nguyễn Sĩ Dũng, nhìn lại chặng đường Đổi mới, ông đánh giá vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường như thế nào? Vai trò đó đang thay đổi ra sao trong giai đoạn phát triển mới?

Nhìn lại chặng đường Đổi mới, tôi cho rằng doanh nhân vừa là lực lượng được giải phóng bởi cải cách, vừa góp phần đưa cải cách vào cuộc sống. Khi quyền kinh doanh được mở rộng, họ huy động vốn, tổ chức sản xuất, tìm kiếm thị trường, tạo việc làm. Chính những hoạt động ấy đã biến cơ hội thể chế thành của cải và sức sống của nền kinh tế.

Đóng góp sâu xa hơn của doanh nhân là hình thành cách phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường. Nhu cầu khách hàng, giá cả và cạnh tranh từng bước trở thành căn cứ cho quyết định sản xuất, đầu tư. Qua đó, doanh nhân góp phần chuyển nền kinh tế từ vận hành theo mệnh lệnh kế hoạch sang vận hành theo cơ chế thị trường.

Trong giai đoạn mới, vai trò ấy được nâng lên. Bên cạnh tạo việc làm và của cải, doanh nhân cần kiến tạo những năng lực phát triển mới: làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu, nâng năng suất và kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Có thể nói, nếu chặng đường đầu đặt trọng tâm vào giải phóng sức sản xuất, thì chặng đường tới đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Để doanh nhân đảm nhận được vai trò đó, khát vọng kinh doanh cần được nâng đỡ bằng quyền tài sản được bảo vệ, chính sách có thể dự báo và cơ hội cạnh tranh công bằng.

Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Theo ông, điều gì khiến việc nhìn nhận doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân hôm nay cần khác so với trước đây?

Theo tôi, sự thay đổi trước hết bắt nguồn từ yêu cầu phát triển của đất nước. Khi Việt Nam hướng tới nền kinh tế có năng suất cao, làm chủ công nghệ và cạnh tranh quốc tế, kinh tế tư nhân cần được nhìn nhận như một lực lượng kiến tạo năng lực phát triển.

Doanh nhân có khả năng nhận ra nhu cầu thị trường, tập hợp nguồn lực và chấp nhận rủi ro để biến ý tưởng thành sản phẩm. Những năng lực ấy đặc biệt cần thiết khi tăng trưởng ngày càng phụ thuộc vào sáng tạo, công nghệ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Vì vậy, xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” cũng đặt doanh nhân vào vị trí chủ thể của quá trình phát triển.

1(4).png

Nhận thức mới phải dẫn đến cách ứng xử mới. Quyền kinh doanh, quyền tài sản và sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực cần được bảo đảm trong thực tế. Doanh nghiệp cần có cơ hội tham gia những lĩnh vực mà mình có năng lực, đồng thời được tham vấn thực chất khi xây dựng chính sách.

Cùng với đó, kỳ vọng đối với doanh nhân cũng cao hơn: đầu tư dài hạn, nâng chuẩn quản trị, kinh doanh liêm chính và giúp các doanh nghiệp khác cùng trưởng thành.

Theo tôi, điều cốt lõi là nhìn doanh nhân như đối tác kiến tạo sự thịnh vượng quốc gia. Sự thay đổi ấy phải thể hiện trong từng chính sách và cách thực thi.

Một trong những thông điệp được nhắc đến nhiều là phải tạo ra một môi trường để doanh nhân “dám nghĩ lớn, dám làm lớn”. Theo ông, đâu là những rào cản thể chế lớn nhất hiện nay khiến doanh nghiệp vẫn còn tâm lý làm nhỏ, làm chắc, ngại đầu tư dài hạn?

Rào cản đầu tiên là tính khó dự báo của chính sách và việc thực thi. Đầu tư dài hạn đòi hỏi tính toán trong nhiều năm, nhưng nếu quy định thay đổi thiếu lộ trình hoặc mỗi nơi áp dụng một cách, phương án kinh doanh có thể mất tính khả thi. Doanh nghiệp sẽ ưu tiên giữ vốn và thu hồi vốn nhanh.

Thứ hai là sự thiếu chắc chắn về quyền tài sản và thực thi hợp đồng. Khi tranh chấp kéo dài, quyền lợi hợp pháp khó được bảo vệ kịp thời, doanh nhân phải tính thêm một khoản rủi ro vào mỗi quyết định đầu tư.

2(1).png

Thứ ba là những trở ngại trong tiếp cận nguồn lực. Một doanh nghiệp có công nghệ, đơn hàng và phương án tốt vẫn khó lớn lên nếu thiếu tài sản thế chấp, mặt bằng sản xuất hoặc cơ hội tham gia thị trường.

Cuối cùng là chi phí tuân thủ có thể tăng khi doanh nghiệp mở rộng. Nếu lớn lên đồng nghĩa với nhiều thủ tục và nhiều lần kiểm tra hơn, động lực mở rộng sẽ suy giảm.

Vì vậy, “dám làm lớn” cần được nâng đỡ bằng một trật tự thể chế minh bạch, ổn định và công bằng. Khi rủi ro thể chế giảm, doanh nhân mới có thể tập trung chấp nhận rủi ro kinh doanh.

Có một nghịch lý là Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp nhưng số doanh nghiệp thực sự lớn, có thương hiệu quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn hạn chế. Theo ông, điểm nghẽn nằm nhiều hơn ở thể chế, năng lực quản trị hay tư duy kinh doanh của doanh nghiệp?

Theo tôi, ba yếu tố này gắn chặt với nhau, nhưng thể chế có vai trò nền tảng vì định hình động lực và cơ hội phát triển của doanh nghiệp.

Nếu đầu tư vào công nghệ, nhân lực và thương hiệu đòi hỏi nhiều năm, trong khi chính sách khó dự báo và nguồn lực khó tiếp cận, doanh nghiệp sẽ có xu hướng lựa chọn hoạt động thu hồi vốn nhanh. Vì thế, một phần tư duy kinh doanh ngắn hạn là kết quả của môi trường thể chế.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng phải vượt qua giới hạn của chính mình. Khi quy mô tăng, cách quản lý dựa chủ yếu vào người sáng lập và quan hệ quen biết khó đáp ứng yêu cầu mới. Doanh nghiệp cần quản trị chuyên nghiệp, tài chính minh bạch, biết phân quyền và thu hút nhân tài. Tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn đòi hỏi chất lượng ổn định, giao hàng đúng hạn và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

3(1).png

Tư duy kinh doanh cũng phải hướng tới làm chủ những khâu tạo giá trị cao: thiết kế, công nghệ, thương hiệu và phân phối. Tăng quy mô cần đi cùng tích lũy năng lực.

Nếu phải xác định thứ tự ưu tiên, tôi cho rằng cải cách thể chế cần mở đường; doanh nghiệp phải nâng chuẩn quản trị và chiến lược để tận dụng cơ hội. Mục tiêu là hình thành những doanh nghiệp đủ năng lực cạnh tranh và giúp mạng lưới nhà cung ứng Việt Nam cùng trưởng thành.

Trong giai đoạn Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, doanh nhân không chỉ được kỳ vọng tạo ra lợi nhuận mà còn phải tham gia vào những lĩnh vực mới như công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và phát triển hạ tầng. Điều này đặt ra những yêu cầu mới nào đối với đội ngũ doanh nhân?

Theo tôi, yêu cầu lớn nhất là doanh nhân phải nâng năng lực tổ chức kinh doanh lên ngang tầm những nhiệm vụ phát triển mới. Công nghệ, chuyển đổi xanh và hạ tầng đều đòi hỏi vốn lớn, thời gian dài và khả năng quản trị rủi ro cao.

Trước hết là tầm nhìn dài hạn. Doanh nhân cần sẵn sàng dành nguồn lực cho nghiên cứu, đào tạo và xây dựng năng lực, dù lợi nhuận chưa đến ngay. Khát vọng phải được chuyển thành chiến lược có trọng tâm, phù hợp với thế mạnh của doanh nghiệp.

Thứ hai là năng lực quản trị chuyên nghiệp. Những lĩnh vực này đòi hỏi tài chính minh bạch, kiểm soát rủi ro và khả năng huy động vốn dài hạn. Doanh nghiệp càng lớn càng cần một tổ chức có thể vận hành vượt khỏi năng lực cá nhân của người sáng lập.

Thứ ba là khả năng hợp tác. Doanh nhân cần kết nối với viện nghiên cứu, trường đại học, đối tác công nghệ và nhà cung ứng để cùng tạo ra sản phẩm, giải pháp và thị trường.

Cuối cùng là trách nhiệm với người lao động, môi trường và cộng đồng, được thể hiện trong quyết định đầu tư và vận hành. Tuy nhiên, kỳ vọng cần phù hợp với năng lực từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ có thể đóng góp bằng một giải pháp công nghệ hoặc linh kiện chuyên biệt. Nhà nước cần tạo cơ chế chia sẻ rủi ro minh bạch để những đóng góp ấy có cơ hội phát triển.

td2.png

Theo ông, một nền kinh tế muốn có những doanh nghiệp lớn thì Nhà nước nên làm gì và không nên làm gì? Ranh giới giữa “kiến tạo” và “can thiệp” vào hoạt động kinh doanh cần được xác lập như thế nào?

Theo tôi, Nhà nước kiến tạo khi giúp doanh nghiệp có điều kiện nâng cao năng lực và cạnh tranh bằng năng lực ấy. Ranh giới cần xác lập là Nhà nước chịu trách nhiệm về chất lượng môi trường phát triển; doanh nghiệp chịu trách nhiệm về quyết định kinh doanh.

Muốn có doanh nghiệp lớn, Nhà nước cần bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm cạnh tranh công bằng, phát triển hạ tầng và nhân lực, khơi thông vốn dài hạn. Những nền tảng này giúp doanh nghiệp tích lũy năng lực và mở rộng thị trường.

Trong lĩnh vực có lợi ích lan tỏa lớn như nghiên cứu công nghệ hoặc chuyển đổi xanh, Nhà nước có thể hỗ trợ, đặt hàng và chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên, hỗ trợ phải có tiêu chí công khai, thời hạn rõ ràng và kết quả đo lường được; doanh nghiệp tiếp cận bằng năng lực, cam kết và trách nhiệm giải trình.

Nhà nước không nên quyết định thay doanh nghiệp về sản phẩm, thị trường hay mô hình kinh doanh; cũng không nên tạo đặc quyền hoặc cứu trợ thường xuyên những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Làm như vậy sẽ khiến nguồn lực khó đến được với doanh nghiệp có năng lực hơn.

“Kiến tạo” vẫn bao gồm điều tiết và giám sát để bảo vệ cạnh tranh, người tiêu dùng và môi trường. Một phép thử là: chính sách có khuyến khích doanh nghiệp nâng năng suất, đổi mới và phục vụ khách hàng tốt hơn không? Nếu có, chính sách đang tạo nền tảng cho doanh nghiệp lớn lên bền vững.

Ông từng có nhiều năm gắn bó với hoạt động nghị trường và nghiên cứu thể chế. Nếu phải chọn một thay đổi về thể chế có tác động lớn nhất đến sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân trong 5-10 năm tới, ông sẽ ưu tiên vấn đề nào? Vì sao?

Nếu phải chọn một ưu tiên, tôi sẽ chọn nâng cao tính chắc chắn của pháp luật trong thực tế: doanh nghiệp biết rõ quyền, nghĩa vụ của mình và tin rằng những quyền ấy được bảo vệ nhất quán.

Từ trải nghiệm nghị trường và nghiên cứu thể chế, tôi nhận thấy một quy định tiến bộ chỉ phát huy giá trị khi được thực thi đáng tin cậy. Nếu cùng một vấn đề mà mỗi cơ quan hiểu khác nhau, hoặc quyết định hợp pháp vẫn có nguy cơ bị xem xét lại thiếu căn cứ rõ ràng, doanh nghiệp khó cam kết vốn cho những dự án dài hạn.

4(2).png

Trong 5–10 năm tới, đầu tư vào công nghệ, thương hiệu và nhân lực sẽ cần thời gian tích lũy dài hơn. Tính chắc chắn của pháp luật vì thế ảnh hưởng trực tiếp đến việc doanh nhân có sẵn sàng tái đầu tư và mở rộng quy mô hay không.

Để tạo thay đổi này, cần bảo đảm cách áp dụng pháp luật nhất quán, có cơ chế xử lý nhanh những cách hiểu mâu thuẫn, giải quyết tranh chấp hiệu quả và bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi chính sách thay đổi. Trách nhiệm của cơ quan thực thi phải rõ ràng, có thể kiểm tra.

Tôi ưu tiên vấn đề này vì tác động của nó lan tỏa đến vốn, hợp đồng, đổi mới sáng tạo và niềm tin đầu tư. Khi doanh nhân tin thành quả kinh doanh hợp pháp được bảo vệ, họ sẽ có động lực biến nguồn lực hôm nay thành năng lực phát triển ngày mai.

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, nếu gửi một thông điệp tới thế hệ doanh nhân Việt Nam đang bước vào một chu kỳ phát triển mới, ông muốn nhấn mạnh điều gì: khát vọng lớn, năng lực thực chất, tinh thần phụng sự hay một điều gì khác?

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, điều đầu tiên tôi muốn gửi tới các doanh nhân là sự trân trọng. Đằng sau mỗi doanh nghiệp là những năm tháng gây dựng, những quyết định khó khăn và cả những đêm mất ngủ vì đơn hàng, dòng tiền, việc làm của người lao động. Chúng ta nhìn thấy thành công, nhưng không phải lúc nào cũng hiểu hết những gì họ đã trải qua.

Tôi mong thế hệ doanh nhân bước vào chặng đường mới có thêm niềm tin để theo đuổi những dự định lớn. Tôi tin nhiều người đang ấp ủ mong muốn làm ra sản phẩm tốt hơn, xây dựng thương hiệu Việt có chỗ đứng quốc tế, tạo môi trường làm việc mà người lao động có thể gắn bó và tự hào.

5(1).png

Để những mong muốn ấy thành hiện thực, doanh nhân cần sự đồng hành thiết thực. Trách nhiệm của chúng ta là tạo môi trường kinh doanh công bằng, pháp luật rõ ràng, quyền lợi hợp pháp được bảo vệ và những khó khăn được lắng nghe, tháo gỡ đến cùng.

Khát vọng lớn, năng lực thực chất và tinh thần phụng sự có thể cùng lớn lên qua từng bước gây dựng doanh nghiệp. Một sản phẩm được khách hàng tin dùng, một đối tác cùng trưởng thành, một gia đình có cuộc sống tốt hơn nhờ việc làm ổn định đều là những đóng góp đáng quý.

Tôi xin chúc các doanh nhân sức khỏe, sự vững vàng và có những người đồng hành tin cậy trên hành trình phía trước.

Trân trọng cảm ơn ông!

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-12 20:28
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/ts-nguyen-si-dung-doanh-nghiep-khong-the-lon-neu-cu-phai-lo-rui-ro-the-che-1470301.html
Đừng bỏ lỡ
    TS Nguyễn Sĩ Dũng: Doanh nghiệp không thể lớn nếu cứ phải lo rủi ro thể chế
    POWERED BY ONECMS & INTECH