TS. Tô Hoài Nam: Không nên xem tài sản thế chấp là ‘cửa vào’ duy nhất khi kích hoạt gói tín dụng 220.000 tỷ đồng
Để gói tín dụng 220.000 tỷ đồng phát huy hiệu quả, TS. Tô Hoài Nam cho rằng cần thay đổi tư duy cho vay, không xem tài sản thế chấp là điều kiện duy nhất để doanh nghiệp tiếp cận vốn mà cần mở rộng các tiêu chí.
.jpg)
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7 vừa diễn ra ngày 3/8, ông Phạm Thanh Hà, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cho biết các Ngân hàng thương mại nhà nước đã đăng ký dành số tiền 220.000 tỉ đồng cho chương trình tín dụng ưu đãi hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cùng các lĩnh vực ưu tiên
Điều này được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn, tạo động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số mà Chính phủ đề ra. Tuy nhiên, để gói tín dụng phát huy hiệu quả, nhiều ý kiến cho rằng điều quan trọng không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở cơ chế triển khai, tiêu chí cho vay và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp. Xung quanh những vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), về những điều kiện để gói tín dụng 220.000 tỷ đồng thực sự trở thành "đòn bẩy" hỗ trợ doanh nghiệp.
.jpg)
PV: Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của gói tín dụng 220.000 tỷ đồng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh nhóm này đang chịu nhiều áp lực về chi phí vốn và cần tăng tốc sản xuất kinh doanh để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
TS.Tô Hoài Nam: Trước hết, đây là một tín hiệu về mặt chính sách rất tích cực và kịp thời. Trong bối cảnh các doanh nghiệp đồng thời phải chịu áp lực về chi phí vốn, về sức mua, về yêu cầu đổi mới công nghệ, việc 4 ngân hàng thương mại nhà nước chủ động dành ra một gói 220.000 tỷ đồng là rất hợp lý, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhất là các lĩnh vực ưu tiên sẽ tạo thêm dư địa phục hồi cho sản xuất, giúp doanh nghiệp mở rộng đơn hàng và đầu tư phát triển.
Tuy nhiên, quy mô mới chỉ mang tính chất công bố và là điều kiện cần. Còn ý nghĩa thực chất thì phải qua một thời gian triển khai thực hiện để tính toán, kiểm nghiệm và đo bằng những kết quả cụ thể. Ví dụ như hiện nay có bao nhiêu doanh nghiệp tiếp cận được vốn, chi phí vốn trên thực tế có giảm được nhiều không, đồng vốn có đi vào sản xuất, kinh doanh không, hay lại đi sang những lĩnh vực không đúng với mục tiêu.
Nếu chỉ chuyển các khoản vay thông thường sang tên gọi "ưu đãi" thôi thì tác động sẽ không lớn. Đặc điểm này theo tôi cần hết sức lưu ý.
Ví dụ, một doanh nghiệp đang vay vốn theo gói thông thường, sau đó cũng chính khoản vay đó chỉ được chuyển sang thành khoản vay ưu đãi bằng một nghiệp vụ kỹ thuật nào đó thì sẽ không có nhiều ý nghĩa.
Theo tôi, gói tín dụng này phải tạo ra cơ hội tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp, chứ không phải chỉ đổi tên các khoản vay hiện có. Trước đây cũng từng có trường hợp doanh nghiệp vay 100 tỷ đồng theo gói thông thường, sau đó bằng kỹ thuật nghiệp vụ lại được chuyển sang gói ưu đãi. Đó chỉ là kỹ thuật. Điều tôi muốn nhấn mạnh là chính sách phải mang lại hiệu quả thực chất.
PV: Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa phản ánh họ có dự án khả thi, có đơn hàng nhưng vẫn không vay được vốn vì thiếu tài sản bảo đảm. Theo ông, gói tín dụng 220.000 tỷ đồng có nên thiết kế theo hướng giảm yêu cầu về tài sản thế chấp hay chuyển mạnh sang đánh giá dòng tiền, phương án kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp?
TS.Tô Hoài Nam: Tôi cho rằng không nên đặt vấn đề bỏ hoàn toàn tài sản bảo đảm, bởi ngân hàng vẫn phải chịu trách nhiệm về an toàn vốn. Tuy nhiên, cũng không nên tiếp tục coi tài sản bảo đảm hay tài sản thế chấp là "cửa vào" duy nhất để doanh nghiệp tiếp cận tín dụng.
Thay vào đó, cần mở rộng các tiêu chí đánh giá, tăng mức độ tin cậy đối với doanh nghiệp trên những cơ sở thực chất hơn như dòng tiền, phương án kinh doanh, dữ liệu thuế, dữ liệu hoạt động, dữ liệu khách hàng... Đây là điều đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh.
.jpg)
Ngân hàng đương nhiên phải bảo đảm các nguyên tắc an toàn, nhưng cũng không nên cứng nhắc. Thực tế, pháp luật hiện nay đã mở ra nhiều căn cứ để các tổ chức tín dụng có thể xem xét cho vay tín chấp. Những yếu tố như dòng tiền, lịch sử sử dụng vốn vay, lịch sử thực hiện nghĩa vụ thuế và nhiều dữ liệu khác đều có thể trở thành cơ sở đáng tin cậy để đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Một vấn đề nữa là hiện vẫn tồn tại sự chưa tương thích giữa chuẩn tín dụng của ngân hàng và đặc thù hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng, có máy móc, có hàng hóa, có dòng tiền và thị trường đầu ra, nhưng những giá trị này chưa được đánh giá đầy đủ trong quá trình cấp tín dụng. Tôi nhấn mạnh là chưa được đánh giá đầy đủ, chứ không phải hoàn toàn không được đánh giá.
Vì vậy, gói tín dụng nên chuyển mạnh sang cơ chế thẩm định dựa trên dòng tiền, hợp đồng đầu ra, hóa đơn điện tử, lịch sử thực hiện nghĩa vụ thuế, giao dịch thanh toán và khả năng trả nợ. Đây cũng chính là những nội dung tôi đã đề cập ở trên. Các tổ chức tín dụng hoàn toàn có thể dựa trên những căn cứ này để đánh giá tính khả thi của phương án vay và mở rộng tỷ lệ cho vay tín chấp.
Đây cũng là định hướng đã được xác định trong Nghị quyết 68 của Trung ương.
Theo tôi, các ngân hàng cần thay đổi cách nhìn nhận. Doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp không đồng nghĩa với việc thiếu năng lực trả nợ. Hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau.
Một doanh nghiệp có thể không có nhiều tài sản bảo đảm nhưng vẫn hoạt động hiệu quả và trả nợ rất tốt. Vì vậy, không nên mặc định rằng cứ thiếu tài sản thế chấp thì rủi ro tín dụng sẽ cao. Năng lực trả nợ của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như dòng tiền, hiệu quả kinh doanh và lịch sử hoạt động.
PV: Ông vừa đề cập đến việc cần thay đổi cách tiếp cận trong điều kiện cho vay. Vậy theo ông, để thực sự được xem là một gói tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, gói vay này cần đáp ứng những tiêu chí nào về lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, điều kiện giải ngân cũng như thủ tục hồ sơ?
TS.Tô Hoài Nam: Để một gói tín dụng thực sự được xem là ưu đãi thì trước hết mức lãi suất phải thấp hơn rõ ràng so với các khoản vay thông thường cùng kỳ hạn. Đồng thời, ngân hàng cần công khai nguyên tắc điều chỉnh lãi suất trong suốt thời gian vay để doanh nghiệp có thể chủ động tính toán chi phí vốn.
Thứ hai, thời hạn vay và thời gian ân hạn phải phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh của từng nhóm doanh nghiệp. Không thể áp dụng một kỳ hạn cứng cho tất cả các lĩnh vực. Chẳng hạn, doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ cần thời gian thu hồi vốn dài hơn, trong khi doanh nghiệp thương mại có vòng quay vốn ngắn thì có thể áp dụng thời hạn vay linh hoạt hơn.
.jpg)
Thứ ba, hồ sơ vay vốn cần được chuẩn hóa, đẩy mạnh số hóa và chỉ yêu cầu những tài liệu thực sự cần thiết để giảm gánh nặng thủ tục cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ngân hàng nên công khai thời gian thẩm định và giải ngân. Ví dụ, nếu cam kết thẩm định trong 3 ngày thì cần thực hiện đúng, tránh kéo dài sang 5 hay 10 ngày khiến doanh nghiệp lỡ kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
Theo tôi, một khoản vay có lãi suất thấp nhưng thủ tục giải ngân kéo dài thì chi phí phát sinh đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa có khi còn lớn hơn phần lợi ích mà lãi suất ưu đãi mang lại. Đồng thời, cũng không nên yêu cầu doanh nghiệp phải mua kèm nhiều sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng để được hưởng lãi suất ưu đãi, bởi khi cộng các chi phí này lại thì ý nghĩa của mức lãi suất thấp sẽ không còn.
.jpg)
Một thực tế thường được doanh nghiệp phản ánh hiện nay là càng khó khăn thì càng khó vay vốn, trong khi doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt lại dễ tiếp cận tín dụng hơn. Theo ông, làm thế nào để gói 220.000 tỷ đồng không rơi vào tình trạng chỉ những doanh nghiệp "đủ khỏe" mới vay được?
TS.Tô Hoài Nam: Theo tôi, điều quan trọng là phải thay đổi cách nhận diện rủi ro và xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp.
Đối tượng cần được ưu tiên không phải là những doanh nghiệp yếu kém, không còn khả năng phục hồi, mà là các doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi, có thị trường nhưng đang thiếu tài sản bảo đảm, thiếu nguồn vốn trung và dài hạn hoặc gặp khó khăn tạm thời về dòng tiền do các yếu tố khách quan. Chính nhóm doanh nghiệp này cần được tập trung hỗ trợ.
Ngược lại, không nên ưu tiên những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, sử dụng vốn không đúng mục đích hoặc thiếu ý thức trong sản xuất, kinh doanh. Nguồn vốn ưu đãi cần hướng đến những doanh nghiệp có tiềm năng phát triển, đang cần vốn lưu động hoặc vốn trung, dài hạn để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, hoặc đang gặp khó khăn tạm thời do những yếu tố khách quan như đơn hàng xuất nhập khẩu bị chậm, biến động địa chính trị...
Để làm được điều đó, theo tôi, cần kết hợp vai trò của ngân hàng với các định chế tài chính có chức năng bảo lãnh tín dụng, xây dựng cơ chế đồng tài trợ và bảo lãnh một phần cho doanh nghiệp. Đây cũng là định hướng đã được nêu trong Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân nhằm nới điều kiện bảo lãnh và nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt quan tâm đến nhóm doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh. Khi đánh giá mức độ tín nhiệm, nên cho phép sử dụng lịch sử hóa đơn, doanh thu, nghĩa vụ thuế và quá trình hoạt động trước thời điểm chuyển đổi, thay vì chỉ tính từ khi doanh nghiệp chính thức được thành lập. Việc nhìn nhận đầy đủ quá trình hoạt động trước đó sẽ phản ánh sát hơn năng lực và uy tín của doanh nghiệp.
.jpg)
Ngân hàng Nhà nước dự kiến sẽ triển khai gói tín dụng 220.000 tỷ đồng trong vài ngày tới. Với vai trò là cơ quan đại diện cho hơn 900.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đề xuất của ông, cần làm gì để gói tín dụng này thực sự minh bạch, phát huy hiệu quả và đến đúng đối tượng thụ hưởng?
TS.Tô Hoài Nam: Theo tôi, để gói tín dụng 220.000 tỷ đồng thực sự phát huy hiệu quả, cần tập trung vào ba cơ chế, ba nguyên tắc quan trọng.
Thứ nhất là phải công khai ngay từ đầu. Các ngân hàng cần công bố rõ đối tượng được vay, lĩnh vực ưu tiên, mức lãi suất, thời hạn vay, hồ sơ, thời gian thẩm định, giải ngân và cả lý do từ chối cấp tín dụng. Quan trọng hơn, sau khi đã công khai thì trong quá trình triển khai không nên phát sinh thêm những điều kiện ngoài khung quy định, bởi điều này sẽ làm giảm tính minh bạch của chính sách.
Thứ hai là phải đơn giản hóa thủ tục và khai thác hiệu quả dữ liệu số. Mục tiêu là doanh nghiệp chỉ cần nộp một bộ hồ sơ và chỉ cung cấp thông tin một lần. Ngân hàng cần chủ động kết nối, khai thác các dữ liệu đã có từ cơ quan thuế, hệ thống hóa đơn điện tử, cơ quan đăng ký kinh doanh và lịch sử tín dụng trên cơ sở được doanh nghiệp đồng ý. Những thông tin đã có trong hệ thống dữ liệu dùng chung thì không nên yêu cầu doanh nghiệp kê khai hay nộp lại, qua đó giảm đáng kể chi phí và thời gian tuân thủ.
Thứ ba là phải giám sát bằng kết quả thực chất. Theo đó, cần công khai định kỳ số lượng doanh nghiệp được vay, quy mô các khoản vay, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp vay lần đầu cũng như các doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh được tiếp cận gói tín dụng. Những con số này sẽ phản ánh rõ hiệu quả thực tế của chính sách.
Bên cạnh đó, theo tôi, cần thiết lập cơ chế tiếp nhận phản ánh từ các hiệp hội doanh nghiệp, đặc biệt là Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Doanh nghiệp cần có quyền yêu cầu ngân hàng trả lời trong một thời hạn cụ thể về tình trạng hồ sơ, lý do được hoặc không được vay cũng như các điều kiện liên quan đến gói tín dụng.
Bởi đây là gói hỗ trợ do Ngân hàng Nhà nước triển khai thông qua bốn ngân hàng thương mại nhà nước, nên ngoài mục tiêu kinh doanh còn phải thực hiện mục tiêu chính sách.
Quan điểm xuyên suốt là không buông lỏng kỷ luật tín dụng, không hạ thấp chuẩn tín dụng, nhưng cũng không thể để những tiêu chí đánh giá rủi ro thiếu linh hoạt trở thành rào cản. Việc mặc định doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm đồng nghĩa với rủi ro cao là chưa có đầy đủ căn cứ. Nếu duy trì cách tiếp cận cứng nhắc này thì doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tiếp tục gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, làm giảm hiệu quả của chính sách hỗ trợ.
Trân trọng cảm ơn ông!