Từ chàng trai 17 tuổi ra trận đến người thương binh hơn 50 năm mang mảnh đạn trong đầu: Được thấy đất nước hòa bình là điều hạnh phúc nhất!
17 tuổi xếp bút lên đường nhập ngũ, ông Nguyễn Đức Vương bước vào chiến trường với lý tưởng của tuổi trẻ. Hơn nửa thế kỷ sau, người thương binh vẫn mang một mảnh đạn trong đầu nhưng điều ông luôn nhắc đến không phải những cơn đau, mà là tình đồng đội và giá trị của hòa bình.

Trên gương mặt đã hằn dấu thời gian và cánh tay vẫn còn mang những dấu vết từ chiến tranh, người cựu chiến binh Nguyễn Đức Vương lặng lẽ nhớ về một thời hoa lửa, về những đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng những trận đánh ác liệt vẫn hiện lên rõ mồn một trong ký ức của ông. Đó không chỉ là những tháng năm gian khổ mà còn là quãng đời đẹp nhất của tuổi trẻ - quãng đời được sống, chiến đấu và cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Đức Vương vào một buổi trưa tháng Bảy. Giữa cái nắng như đổ lửa, căn nhà cấp 4 giản dị mang dáng dấp truyền thống của vùng quê Bắc Bộ nép mình dưới những tán cây xanh, bình yên như chính cuộc sống của người thương binh sau chiến tranh.
Ông Vương (SN 1952, quê thôn Tam Á, Gia Đông, Thuận Thành, Bắc Ninh nay là khu phố Tam Á, phường Thuận Thành, Bắc Ninh) ngồi bên hiên nhà, nở nụ cười hiền hậu đón khách. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày rời chiến trường nhưng mỗi khi nhắc đến đồng đội và những trận đánh năm xưa, ánh mắt ông vẫn lặng đi, nhìn vào khoảng xa xăm bởi ký ức chưa từng ngủ yên.
Năm 1969, khi vừa tròn 17 tuổi và đang theo học tại một trường công nghệ thực phẩm ở Phú Thọ, ông cùng nhiều bạn bè đăng ký ra chiến trường. Đó cũng là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt.
"Ngày ấy, thanh niên ai cũng xác định đến tuổi là lên đường. Tôi nhập ngũ ngay tại trường, chẳng ai nghĩ nhiều đến chuyện riêng, chỉ nghĩ đất nước cần thì mình đi", ông Vương chậm rãi nhớ lại.
Từ miền Bắc, chàng trai 17 tuổi mang theo lý tưởng cao đẹp cùng đồng đội bắt đầu cuộc hành quân vào chiến trường miền Nam. Không có ô tô, không tàu hỏa hay máy bay, tất cả mọi người đều đi bộ hàng tháng trời.
Tới Quảng Bình, đơn vị tiếp tục băng qua tuyến đường Trường Sơn, men theo những cánh rừng, sang khu vực tập kết gần Campuchia rồi mới lần lượt hành quân về các chiến trường.

Trong ký ức của người lính già, tuyến đường Trường Sơn huyền thoại ấy không chỉ có những trận bom hay những cuộc hành quân giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Đó còn là những cơn sốt rét rừng triền miên, những bữa cơm ăn vội giữa đại ngàn và tình đồng đội gắn bó như anh em ruột thịt. Những ngày hành quân, sau cả đêm băng rừng vượt suối, khẩu phần của mỗi người chỉ là một nắm cơm cùng vài quả cà muối. Thế nhưng với những người lính trẻ khi ấy, chừng đó cũng đủ để tiếp thêm sức lực cho chặng đường phía trước.
Thỉnh thoảng, bắt gặp gà rừng hay thú rừng trên đường hành quân, cả đơn vị lại tranh thủ săn bắt để cải thiện bữa ăn. Trong vô vàn ký ức về những năm tháng chiến tranh, điều ông nhớ nhất lại là lần bắn được một con dím. "Đến giờ tôi vẫn nhớ, thịt dím là món ngon nhất mình từng ăn", ông mỉm cười kể lại.
Chiến trường đầu tiên của ông là Bình Long, Phước Long, sau đó cùng đơn vị về Mỏ Cày, Bến Tre. Trái với hình dung của nhiều người về cuộc sống nơi chiến trường chỉ toàn thiếu thốn và khắc nghiệt, điều đọng lại sâu sắc nhất trong ký ức của ông lại là tình cảm chân chất, nghĩa tình mà người dân miền Nam dành cho những người lính từ miền Bắc.
"Đơn vị chúng tôi là một trong những đơn vị từ ngoài Bắc vào Bến Tre. Người dân quý bộ đội lắm, hỏi han như người thân", ông xúc động kể.

Nhắc đến Bến Tre, ông Vương lại nở nụ cười hiền. Ông nhớ như in những lần được bà con dẫn đi chọn dừa Xiêm để chọn được trái ngon, ngọt và mát. Những điều tưởng chừng rất bình dị ấy lại khiến ông nhớ mãi. Bởi lẽ, đó chính là sự đùm bọc, sẻ chia, là nguồn động viên để những người lính thêm vững tin hoàn thành nhiệm vụ.
Trong Trung đoàn Pháo binh 309F (trước đây là Quân khu 8, nay là Quân khu 9), ông Nguyễn Đức Vương được giao nhiệm vụ làm thông tin. Không trực tiếp đứng bên những khẩu pháo nhưng người lính thông tin lại giữ vai trò đặc biệt quan trọng, chịu trách nhiệm thiết lập, duy trì và bảo vệ hệ thống liên lạc.
Ông kể rằng, lực lượng thông tin luôn phối hợp chặt chẽ với trinh sát. Sau khi trinh sát bí mật tiếp cận, xác định vị trí, quy mô và cách bố trí của đối phương, bộ phận thông tin sẽ triển khai đường dây liên lạc từ trận địa đến đài quan sát để phục vụ chỉ huy.
Trước mỗi trận đánh, các tổ trinh sát còn dựng sa bàn, báo cáo tình hình để chỉ huy xây dựng phương án tác chiến, phân công từng mũi tiến công.
Đầu năm 1975, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ trinh sát khu vực Chi khu Ba Giác (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cũ). Chính tại nơi đây, cuộc đời của người lính trẻ đã rẽ sang một hướng khác.
Hồi tưởng về ngày định mệnh ấy, ông kể bằng giọng chậm rãi: "Hôm ấy chúng tôi đang làm nhiệm vụ thì địch mở cuộc càn quét. Pháo của đối phương bất ngờ dội xuống trận địa. Một đồng đội hy sinh tại chỗ, nhiều người khác bị thương. Tôi bị trúng mảnh pháo, lịm đi".
Đó là ký ức cuối cùng còn đọng lại trước khi ông rơi vào hôn mê. Khi tỉnh dậy, ông đã nằm tại bệnh viện. Theo phản xạ, ông đưa tay lên đầu. "Tóc bết đầy máu, sờ vào cứng như bùn khô. Tôi cứ lấy tay lần gỡ những mảng cứng ấy", ông nói.
Những mảnh pháo đã xé toạc một phần khuôn mặt. Sau khi được sơ cứu, ông được chuyển về Bệnh viện Mỹ Tho, rồi tiếp tục điều trị tại Bệnh viện Quân y 175. Khi ấy, ông không hề biết rằng phía trước mình là hành trình gần 2 năm giành giật với thương tật, trải qua hàng chục ca phẫu thuật mới có thể đứng dậy và bước đi.

Bị thương nặng, song người lính 23 tuổi năm ấy không gục ngã. Khi sức khỏe dần ổn định, ông cùng những thương binh nằm điều trị trò chuyện, chia sẻ, đôi lúc còn đùa vui để quên đi những cơn đau. Giữa bệnh viện, những tiếng cười mộc mạc của người lính trở thành liều thuốc tinh thần, giúp họ mạnh mẽ hơn trên hành trình giành lại sự sống.
Sau một thời gian điều trị ở miền Nam, ông được chuyển ra Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Hà Nội). Tại đây, hành trình giành lại sự sống của người lính trẻ mới thực sự bắt đầu. Do vết thương quá nặng, nhiều mảnh pháo cắm sâu vào vùng đầu và mặt khiến gương mặt ông bị tổn thương nghiêm trọng.
Ông kể, các bác sĩ đã nhiều lần hội chẩn trước khi quyết định phương án phẫu thuật. Người trực tiếp điều trị cho ông khi ấy là bác sĩ Nguyễn Huy Phan - lãnh đạo Bệnh viện 108, bác sĩ Nguyễn Huy Thọ và nhiều y, bác sĩ khác.
"Tôi không nhớ mình trải qua bao nhiêu ca mổ nữa", ông kể lại. Để tái tạo phần khuôn mặt bị mất, các bác sĩ phải lấy chính phần da ở cánh tay của ông để ghép. Đến nay, trên cánh tay trái vẫn còn dấu tích của ca ghép da năm nào.
Sau nhiều lần phẫu thuật, hầu hết các mảnh đạn đã được lấy ra. Chỉ còn một mảnh nằm sâu trong hộp sọ, sát các dây thần kinh quan trọng. Theo đánh giá của bác sĩ, việc phẫu thuật lấy dị vật tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với việc để lại nên mảnh đạn ấy vẫn ở trong cơ thể ông suốt hơn nửa thế kỷ.
Từ đó đến nay, mỗi khi trời trở lạnh hay thời tiết thay đổi, những cơn đau đầu lại âm ỉ kéo đến. Có những đêm đau đến mức ông không thể chợp mắt, phải nhờ vợ con xoa bóp để dịu bớt.
"Có hôm đau quá, tôi phải nhờ mấy đứa cháu lấy chiếc điếu cày gõ nhẹ lên đầu cho đỡ tức", ông cười kể.
Hơn 50 năm sống cùng mảnh đạn trong đầu, ông bảo rồi cũng thành quen. Mảnh kim loại ấy giờ như một phần cơ thể, một dấu tích chiến tranh không thể xóa nhòa, nhắc ông về những năm tháng tuổi trẻ đã gửi lại nơi chiến trường.

Sau khoảng 2 năm điều trị, ông xuất viện. Theo quy định thời điểm đó, ông được công nhận là thương binh hạng 6/8; đến năm 1987 được chuyển đổi thành thương binh hạng 1/4.
Từ đó, ông bắt đầu cuộc sống điều dưỡng lâu dài tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành. Ở đó, những người lính năm xưa lại gặp nhau. Có người mất một cánh tay, có người không còn đôi chân, có người mang trong mình hàng chục mảnh đạn… Nhưng mỗi lần gặp mặt, điều họ nhắc nhiều nhất vẫn là đồng đội.
Không chỉ mang thương tật suốt đời, ông Vương còn chịu thêm một nỗi đau khác. Trong thời gian chiến đấu, ông bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Nhiều năm sau, khi lập gia đình, điều đó mới hiện hữu rõ ràng. Vợ chồng ông có 4 người con nhưng người con trai bị dị tật bẩm sinh ở cánh tay phải. Với ông Vương và hàng triệu gia đình khác, chiến tranh đã kết thúc từ lâu nhưng hậu quả vẫn kéo dài qua nhiều thế hệ.
Trong suốt cuộc trò chuyện, khi nhắc đến đồng đội, giọng ông Vương chùng xuống. Người ông nhớ nhất là ông Lê Sỹ Đáy, quê Hải Dương (nay thuộc TP Hải Phòng). Hai ông không cùng đơn vị nhưng đều bị thương trong những trận chiến ác liệt tại Mỏ Cày (Bến Tre), rồi gặp nhau tại một bệnh xá dã chiến.
"Khi tôi không ăn được, anh ấy đút từng thìa cơm, từng ngụm nước", ông Vương nói.
Sau này, mỗi người trở về một quê hương nhưng tình đồng đội chưa bao giờ phai nhạt. Họ vẫn giữ liên lạc, thỉnh thoảng lại tìm đến thăm nhau, hỏi han cuộc sống như những người thân trong gia đình.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, sức khỏe ngày một yếu khiến ông không còn đủ điều kiện tham dự những buổi gặp mặt cựu chiến binh hay trở lại chiến trường xưa như mong muốn.

Ở tuổi ngoài 70, người thương binh hạng 1/4 không còn mong mỏi điều gì cho riêng mình. Điều khiến ông mãn nguyện nhất là được chứng kiến đất nước thanh bình, thế hệ trẻ lớn lên trong điều kiện học tập, làm việc và phát triển tốt hơn rất nhiều so với những năm tháng chiến tranh.
Mỗi dịp 27/7, khi những đoàn công tác của Đảng, Nhà nước và địa phương đến thăm hỏi các thương, bệnh binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành, ông lại cảm nhận rõ hơn sự tri ân của các thế hệ hôm nay đối với những người đã cống hiến một phần tuổi xuân, xương máu cho Tổ quốc.
Với ông Nguyễn Đức Vương, đó không chỉ là sự động viên dành cho những người lính năm xưa, mà còn là minh chứng cho đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, điều còn lại không chỉ là những vết thương, những tấm huân chương hay ký ức về đồng đội đã ngã xuống, mà còn là trách nhiệm gìn giữ hòa bình và trân trọng những hy sinh đã làm nên cuộc sống bình yên hôm nay.