Tiêu điểm

Doanh nghiệp sắp được tự quyết giá xăng dầu, PGS.TS Ngô Trí Long chỉ rõ điều kiện để người dân thực sự được lợi

Minh Anh • 02/10/2026 22:07

Dự thảo lần 14 Nghị định về kinh doanh xăng dầu đề xuất doanh nghiệp được tự quyết giá bán, thay vì Nhà nước công bố giá bán lẻ định kỳ. PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, trao quyền định giá chỉ có ý nghĩa khi đi cùng cạnh tranh thực chất, minh bạch giá và mở rộng lựa chọn cho người tiêu dùng.

mini.png

Dự thảo lần thứ 14 Nghị định kinh doanh xăng dầu đang mở đường cho một bước ngoặt thể chế: Nhà nước ngừng công bố giá bán lẻ định kỳ, trao lại quyền tự quyết giá cho doanh nghiệp. Đứng trước viễn cảnh giá xăng dầu có thể “sáng tăng, chiều giảm” như chứng khoán, dư luận không khỏi băn khoăn: Liệu người tiêu dùng sẽ được thụ hưởng một thị trường cạnh tranh sòng phẳng, hay chỉ đơn thuần là chuyển quyền áp đặt giá từ cơ quan quản lý sang tay các "ông lớn" đầu mối?

Trao đổi với chúng tôi, PGS.TS Ngô Trí Long - Hiệp hội tư vấn tài chính Việt nam, nhận định: Trao quyền định giá cho doanh nghiệp là bước chuyển đáng kể về tư duy quản lý, nhưng “tự quyết giá chưa đồng nghĩa với cạnh tranh về giá”. Theo ông, thước đo thành công của cuộc cải cách này không nằm ở việc Nhà nước trao đi bao nhiêu quyền, mà là người tiêu dùng nhận lại bao nhiêu sự lựa chọn.

td1.png

Dư luận đang rất quan tâm trước khả năng giá xăng dầu có thể “sáng tăng, chiều giảm”. Ông đánh giá thế nào về đề xuất để doanh nghiệp tự quyết định giá xăng dầu?

PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, đây là một bước chuyển đáng kể về tư duy quản lý giá, nhưng cần phân biệt giữa trao quyền định giá cho doanh nghiệp và tạo ra cạnh tranh thực chất.

Theo phương án Bộ Công Thương trình bày ngày 30/9/2026, Nhà nước không còn trực tiếp công bố giá bán lẻ tối đa định kỳ, doanh nghiệp được chủ động quyết định giá dựa trên giá mua, chi phí tạo nguồn, chi phí kinh doanh, lợi nhuận và thuế. Về nguyên tắc, đây là hướng đi phù hợp với cơ chế thị trường, bởi doanh nghiệp nào kiểm soát tốt nguồn hàng, logistics và chi phí sẽ có dư địa bán giá cạnh tranh hơn.

Tuy nhiên, tự quyết giá chưa đồng nghĩa với cạnh tranh về giá. Petrolimex và PVOIL hiện chiếm khoảng 70–75% thị phần bán lẻ, riêng Petrolimex khoảng 43%. Nếu các doanh nghiệp nhỏ vẫn phụ thuộc vào nguồn hàng và hạ tầng của một số đầu mối lớn, việc bỏ cơ chế giá Nhà nước công bố chưa chắc tạo ra cạnh tranh mạnh.

Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là doanh nghiệp được tự ghi giá lên bảng, mà là có đủ nguồn hàng, hạ tầng và khả năng cạnh tranh với nhau hay không. Cải cách cơ chế định giá cần đi cùng mở rộng cạnh tranh, nếu không, thị trường có thể chỉ chuyển từ một mức giá hành chính sang nhiều mức giá doanh nghiệp, thay vì hình thành cạnh tranh thực sự.

Với doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu, cơ chế mới tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất nào hiện nay: quyền tự quyết giá, biên lợi nhuận hay khả năng chủ động nguồn hàng? Quan trọng hơn, người tiêu dùng sẽ thực sự được lợi gì so với cơ chế hiện hành?

Theo tôi, không nên nhìn thay đổi này đơn thuần là “trao quyền tăng, giảm giá cho doanh nghiệp”. Điểm quan trọng hơn là đưa quyền quyết định kinh doanh trở về gắn với trách nhiệm kinh doanh và rủi ro thị trường. Trong cơ chế hiện hành, Nhà nước công bố giá cơ sở và mức giá tối đa theo kỳ điều hành. Doanh nghiệp được quyết định giá bán nhưng phải nằm trong giới hạn đó. Dự thảo mới đi xa hơn: Nhà nước không trực tiếp công bố giá cơ sở định kỳ, doanh nghiệp tự xác định và công bố giá bán theo công thức, nguyên tắc của Nghị định; Nhà nước chuyển sang quản lý, giám sát và can thiệp khi thị trường có biến động.

1.png

Tôi cho rằng điểm nghẽn cần tháo gỡ không phải là “bảo đảm lợi nhuận” cho doanh nghiệp bán lẻ. Trong kinh tế thị trường, Nhà nước không thể và cũng không nên bảo đảm một mức lợi nhuận cố định cho mọi doanh nghiệp. Doanh nghiệp quản trị tốt, mua hàng tốt, tiết giảm chi phí, tổ chức mạng lưới hiệu quả phải có khả năng đạt lợi nhuận cao hơn; doanh nghiệp kém hiệu quả phải chịu sức ép cải tổ.

Điểm quan trọng là phải để chi phí, hiệu quả kinh doanh và tín hiệu cung - cầu được phản ánh nhanh hơn vào giá, đồng thời tạo điều kiện để từng doanh nghiệp chủ động lựa chọn chiến lược cạnh tranh. Một cửa hàng có vị trí thuận lợi, doanh số lớn, chi phí thấp có thể chấp nhận biên lợi nhuận thấp hơn để giảm giá và tăng sản lượng. Một cửa hàng ở vùng xa, chi phí vận chuyển và duy trì dự trữ lớn hơn có thể có mức giá khác. Khi ấy, giá bắt đầu trở thành một tín hiệu kinh tế, thay vì chủ yếu là kết quả của một công thức điều hành chung cho toàn thị trường.

Quy mô thị trường cho thấy yêu cầu này không hề nhỏ. Năm 2025, tổng nguồn xăng dầu phục vụ thị trường trong nước ước khoảng 28,6 triệu m³/tấn, tiêu thụ khoảng 26,4 triệu m³/tấn, bình quân 2,2 triệu m³/tấn/tháng. Sang năm 2026, Bộ Công Thương phân giao tổng nguồn tối thiểu gần 31,8 triệu m³/tấn, tương đương khoảng 2,65 triệu m³/tấn/tháng. Một thị trường lớn như vậy khó có thể vận hành tối ưu nếu mọi quyết định thương mại đều quá phụ thuộc vào một cơ chế giá hành chính đồng nhất.

Đối với người tiêu dùng, lợi ích lớn nhất không phải là chắc chắn giá xăng sẽ giảm. Cần nói rõ điều đó. Thị trường hóa giá không đồng nghĩa với “giá luôn rẻ hơn”. Lợi ích thực sự là người mua có cơ hội hưởng giá cạnh tranh hơn, sự lựa chọn lớn hơn và dịch vụ tốt hơn. Doanh nghiệp tiết giảm được chi phí có thể giảm giá để thu hút khách hàng; doanh nghiệp không cạnh tranh được bằng giá phải cạnh tranh bằng chất lượng phục vụ, tiện ích, phương thức thanh toán hoặc các dịch vụ đi kèm.

Đặc biệt, khi chi phí đầu vào giảm, cơ chế cạnh tranh có thể tạo sức ép buộc doanh nghiệp chuyển phần lợi ích đó sang người tiêu dùng nhanh hơn thay vì chờ một kỳ điều hành chung.

Nhưng điều này chỉ xảy ra khi có cạnh tranh thực chất. Nếu một địa bàn chỉ có một vài cửa hàng và người mua gần như không có lựa chọn, trao quyền định giá chưa chắc làm giá cạnh tranh hơn. Khi đó, chúng ta mới chỉ chuyển người ra quyết định giá từ cơ quan quản lý sang doanh nghiệp, chứ chưa thực sự tạo ra cơ chế thị trường. Vì vậy, tôi cho rằng nguyên tắc phải là: không đánh giá thành công của cơ chế mới bằng việc Nhà nước trao được bao nhiêu quyền cho doanh nghiệp, mà bằng việc người tiêu dùng có thêm bao nhiêu quyền lựa chọn.

td2.png

Nếu “mỗi cây xăng một giá” trở thành thực tế, liệu chúng ta có vô tình biến việc mua xăng thành cuộc “săn giá”, gây ùn ứ và xáo trộn giao thông, nhất là tại các đô thị vào giờ cao điểm? Đây có phải là hệ quả cần đặc biệt cân nhắc khi thiết kế cơ chế giá mới?

“Mỗi cây xăng một giá” về bản chất không phải điều bất thường của kinh tế thị trường. Điều đáng lo không phải là có nhiều mức giá, mà là giá được hình thành như thế nào, người dân có biết mức giá đó trước khi mua hay không và phía sau sự biến động có thực sự là cạnh tranh hay không. Tại hội nghị ngày 30/9, khả năng các cửa hàng có mức giá khác nhau và giá có thể được thay đổi trong ngày đã được đặt ra khi thảo luận về cơ chế doanh nghiệp tự quyết giá. Về lý thuyết, sự khác biệt giá chính là một phần của cạnh tranh. Hai cửa hàng cách nhau vài trăm mét cùng bán một loại nhiên liệu nhưng một cửa hàng rẻ hơn 200–300 đồng/lít sẽ tạo sức ép lên cửa hàng còn lại. Người tiêu dùng có thêm lựa chọn và doanh nghiệp phải tính toán lại chi phí. Nhưng xăng dầu có một đặc điểm khác hàng hóa thông thường: thị trường cạnh tranh của nó mang tính địa lý rất rõ. Người tiêu dùng khó đi thêm 10–20 km chỉ để mua được một lít xăng rẻ hơn vài trăm đồng, bởi chi phí nhiên liệu, thời gian và đi lại có thể lớn hơn số tiền tiết kiệm được. Vì thế, cạnh tranh cần được xem xét ở phạm vi từng khu vực, thậm chí từng tuyến đường, chứ không chỉ dựa vào số lượng doanh nghiệp trên phạm vi cả nước.

2(1).png

Hiện Việt Nam có trên 17.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Nhưng 17.000 cửa hàng trên toàn quốc không có nghĩa tại mọi địa bàn người tiêu dùng đều có năm hay sáu lựa chọn thực sự. Về nguy cơ “săn giá”, tôi cho rằng không nên phóng đại, nhưng cũng không thể bỏ qua. Nếu chênh lệch chỉ 100–200 đồng/lít, rất ít người lái xe nhiều kilomet để mua rẻ hơn. Nhưng nếu chênh lệch đủ lớn và kéo dài, một số điểm bán có thể thu hút lượng khách tăng đột biến, đặc biệt ở khu vực đô thị đông phương tiện. Đây là phản ứng bình thường của thị trường.

Cần phân biệt rất rõ: biến động giá không đồng nghĩa với bất ổn thị trường. Một thị trường có thể có giá thay đổi thường xuyên nhưng vẫn vận hành rất ổn định nếu thông tin minh bạch, nguồn cung đầy đủ và doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh. Ngược lại, giá ít thay đổi nhưng người mua không có lựa chọn hoặc các doanh nghiệp cùng duy trì một mức giá cao cũng không thể gọi là một thị trường cạnh tranh hiệu quả. Do đó, theo tôi, cơ chế mới cần thiết lập ba “hàng rào mềm”: mọi lần thay đổi giá phải có thời điểm hiệu lực rõ ràng và được đồng thời niêm yết tại cửa hàng và cập nhật trên hệ thống dữ liệu quốc gia; toàn bộ lịch sử thay đổi giá phải được lưu giữ để cơ quan quản lý có thể phát hiện những biến động bất thường; đồng thời phải giám sát các hiện tượng tăng giá đồng loạt không giải thích được bằng chi phí, hoặc chênh lệch giá bất thường tại những khu vực có ít đối thủ cạnh tranh.

Tôi không cho rằng cần quay trở lại cơ chế Nhà nước kiểm soát từng mức giá chỉ vì lo giá thay đổi nhiều lần trong ngày. Quản lý tốt hơn không có nghĩa là quyết định giá thay cho thị trường, mà là làm cho mọi quyết định giá có thể được nhìn thấy, giải thích và kiểm tra.

untitled-1.png

Khi bỏ giá bán lẻ tối đa, Nhà nước cần những công cụ nào để ngăn tình trạng các cửa hàng cùng địa bàn bắt tay “neo” giá cao hoặc bán phá giá?

Theo tôi, đây là điểm quan trọng nhất khi chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Bỏ giá trần không có nghĩa Nhà nước buông quản lý, mà phải chuyển sang quản lý bằng dữ liệu, giám sát cạnh tranh và chế tài.

Trước hết, cần minh bạch dữ liệu về giá bán, giá đầu vào, chi phí vận chuyển, tồn kho và thời điểm điều chỉnh giá để cơ quan quản lý biết giá tăng do chi phí hay do sức mạnh thị trường.

3.png

Thứ hai, phải giám sát cạnh tranh theo từng địa bàn. Có nơi doanh nghiệp không lớn trên toàn quốc nhưng lại gần như chi phối một huyện, một tuyến giao thông. Những khu vực ít cây xăng, ít lựa chọn cần được theo dõi đặc biệt.

Thứ ba, doanh nghiệp được quyền tự quyết giá thì phải có nghĩa vụ giải trình cấu thành giá. Khi giá tăng bất thường, cơ quan quản lý phải có quyền kiểm tra, kiểm toán các khoản chi phí liên quan.

Cuối cùng là chế tài đủ mạnh với hành vi thông đồng, lạm dụng vị trí thống lĩnh, găm hàng, tạo khan hiếm giả hoặc cung cấp thông tin sai lệch. Đặc biệt với vùng sâu, vùng xa, nơi người dân ít lựa chọn, không thể chỉ nói “để thị trường quyết định”. Nhà nước có thể không quyết định giá, nhưng phải biết vì sao giá được hình thành ở mức đó và có công cụ can thiệp khi cạnh tranh không còn thực chất.

Trước đây, điều kiện kinh doanh và rào cản gia nhập thị trường khá cao. Theo ông, có nên giảm mạnh các điều kiện, thủ tục để mở cây xăng, tạo thêm cạnh tranh và tránh tình trạng một cây xăng có thể tự quyết giá vì không có đối thủ?

Đây chính là điều kiện rất quan trọng. Nếu tự do hóa giá mà không mở rộng điều kiện cho cạnh tranh thì chúng ta mới làm được một nửa cải cách. Một nguyên tắc kinh tế rất cơ bản là: doanh nghiệp chỉ bị sức ép giảm giá khi người tiêu dùng có khả năng chuyển sang người bán khác. Vì vậy, khi trao thêm quyền định giá cho người bán, đồng thời phải tạo điều kiện để người bán mới có thể gia nhập thị trường một cách hợp lý.

Thực tế, Chính phủ đã đi theo hướng này. Nghị quyết 19/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương đã đặt ra việc đơn giản hóa nhiều thủ tục và điều kiện trong lĩnh vực xăng dầu. Dự thảo Nghị định mới tiếp tục theo hướng tinh gọn hệ thống, giảm khâu trung gian và bãi bỏ một số giấy phép trong hệ thống phân phối; thương nhân phân phối chuyển sang cơ chế thông báo trực tuyến phục vụ quản lý.

4.png

Tôi cho rằng hướng tiếp cận đúng là phân biệt rất rõ hai nhóm điều kiện. Những điều kiện mang tính kỹ thuật liên quan trực tiếp đến phòng cháy chữa cháy, an toàn bồn bể, chất lượng nhiên liệu, bảo vệ môi trường, khoảng cách an toàn và khả năng ứng phó sự cố thì phải duy trì nghiêm ngặt, thậm chí kiểm tra chặt chẽ hơn. Xăng dầu là mặt hàng có nguy cơ cháy nổ và tác động môi trường lớn, nên không thể lấy lý do “tạo cạnh tranh” để hạ thấp tiêu chuẩn an toàn. Ngược lại, những điều kiện mang tính hành chính, giấy phép chồng chéo hoặc những yêu cầu không chứng minh được tác dụng đối với an toàn và an ninh cung ứng thì nên tiếp tục rà soát và cắt giảm.

Mục tiêu cần hướng tới là dễ gia nhập về thủ tục nhưng khó vi phạm về tiêu chuẩn. Đặc biệt, khi thiết kế chính sách cạnh tranh, không nên chỉ nhìn thị phần trên toàn quốc. Cần tận dụng dữ liệu địa lý của hơn 17.000 điểm bán để xác định những khu vực chỉ có một hoặc rất ít nhà cung cấp trong bán kính hợp lý. Đó mới là những địa bàn có nguy cơ hình thành quyền lực thị trường cục bộ. Nếu một khu vực có năm hoặc bảy cửa hàng thuộc các doanh nghiệp khác nhau thì cơ chế tự định giá có khả năng tạo cạnh tranh khá rõ. Nhưng nếu hàng chục kilomet chỉ có một điểm bán thì quyền định giá của doanh nghiệp ở đó trên thực tế lớn hơn rất nhiều.

Vì thế, cải cách giá phải đi cùng cải cách cấu trúc thị trường. Không thể chỉ thay đổi công thức giá mà giữ nguyên những rào cản khiến người tiêu dùng không có lựa chọn.

td3.png

Nhà nước có nên xây dựng một hệ thống dữ liệu công khai, cập nhật giá bán của các cửa hàng theo thời gian gần thực để người dân dễ so sánh và cơ quan quản lý giám sát biến động bất thường?

Theo tôi, đây không chỉ là điều “nên làm”, mà phải trở thành một cấu phần bắt buộc của cơ chế giá mới. Trao quyền định giá phải đi cùng nghĩa vụ cung cấp dữ liệu. Điều đáng chú ý là Việt Nam hiện đã có một nền tảng để phát triển theo hướng này chứ không cần bắt đầu từ con số không.

Từ ngày 1/6/2026, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã đưa ứng dụng “Quanh tôi” vào vận hành. Người sử dụng có thể tìm cửa hàng xăng dầu gần nhất, xem địa chỉ, chỉ đường, tình trạng hoạt động, loại nhiên liệu và giá bán; đồng thời phản ánh những hành vi như bán sai giá, đóng cửa bất thường, hạn chế lượng bán hoặc không xuất hóa đơn. Bộ Công Thương cũng định hướng phát triển thêm chức năng cảnh báo giá bất thường, tồn kho và dự báo cung - cầu. Do đó, thay vì xây dựng thêm một hệ thống hoàn toàn mới, tôi cho rằng nên nâng cấp “Quanh tôi” và Hệ thống quản lý xăng dầu quốc gia thành hạ tầng dữ liệu chính thức của thị trường.

Mỗi cửa hàng khi thay đổi giá phải gửi dữ liệu điện tử gồm mã cửa hàng, loại nhiên liệu, mức giá mới và thời điểm có hiệu lực. Người dân có thể mở điện thoại và biết trong bán kính 1 km, 3 km hoặc 5 km có những cửa hàng nào, giá bao nhiêu, đang hoạt động hay không. Quan trọng hơn, hệ thống phải kết nối được với hóa đơn điện tử và dữ liệu bán hàng. Dự thảo hiện cũng đặt ra hướng các thương nhân báo cáo dữ liệu mua bán, tồn kho; dữ liệu từ cửa hàng bán lẻ, trong đó có thông tin hóa đơn, được chuyển tới cơ quan thuế và Bộ Công Thương. Khi đó, cơ quan quản lý có thể phát hiện gần như tự động những trường hợp đáng chú ý: cửa hàng niêm yết một giá nhưng hóa đơn thể hiện giá khác; giá tăng đột biến vượt xa xu hướng chung; một khu vực đồng loạt tăng giá trong thời gian rất ngắn; lượng bán giảm bất thường; hoặc cửa hàng báo hết hàng trong khi dữ liệu nhập - xuất cho thấy vẫn còn tồn kho. Đó chính là sự thay đổi căn bản từ “quản lý bằng giấy phép” sang “quản lý bằng dữ liệu”.

Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng không phải người dân nào cũng sử dụng điện thoại thông minh. Vì vậy, giá vẫn phải được niêm yết lớn, rõ ràng ngay tại cửa hàng. Công nghệ phải bổ sung quyền tiếp cận thông tin chứ không được trở thành điều kiện bắt buộc để người dân biết mình đang phải trả bao nhiêu. Xa hơn nữa, dữ liệu giá đã được chuẩn hóa nên có thể công khai dưới dạng dữ liệu mở để các ứng dụng giao thông, bản đồ số và doanh nghiệp công nghệ phát triển công cụ so sánh giá. Khi hàng triệu người tiêu dùng có khả năng so sánh giá một cách dễ dàng, chính sức ép lựa chọn của người mua sẽ trở thành một công cụ điều tiết thị trường rất hiệu quả.

td4.png

Nếu gửi một số kiến nghị trọng tâm tới Ban soạn thảo dự thảo lần thứ 14 Nghị định về kinh doanh xăng dầu, theo ông, những nội dung nào cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm cạnh tranh thực chất, minh bạch giá cả và giám sát hiệu quả?

Theo tôi, tư duy xuyên suốt của Nghị định mới nên là: Nhà nước giảm can thiệp vào quyết định kinh doanh cụ thể, nhưng phải tăng năng lực thiết kế thị trường và giám sát hành vi thị trường.

Tôi đề nghị tập trung vào 6 vấn đề trọng tâm:

-Làm rõ cơ chế hình thành giá và trách nhiệm của từng chủ thể. Doanh nghiệp được quyền định giá nhưng công thức, nguyên tắc xác định các yếu tố chi phí phải minh bạch, có thể kiểm chứng. Cần tránh tình trạng gọi là giá thị trường nhưng một số yếu tố đầu vào vẫn được xác định thiếu minh bạch hoặc trách nhiệm chi phí giữa đầu mối, phân phối và bán lẻ không rõ ràng.

-Tạo cạnh tranh thực chất trong chuỗi phân phối. Cùng với giảm tầng nấc trung gian, phải tạo điều kiện để doanh nghiệp có khả năng lựa chọn nguồn hàng phù hợp, tránh sự phụ thuộc quá lớn vào một nguồn cung duy nhất; đồng thời tiếp tục cắt giảm những điều kiện gia nhập thị trường không thực sự cần thiết. Những yêu cầu về an toàn, chất lượng, phòng cháy chữa cháy và môi trường phải giữ nghiêm.

-Biến minh bạch giá thành nghĩa vụ pháp lý gắn với quyền định giá. Mỗi lần thay đổi giá phải được cập nhật ngay trên hệ thống quản lý quốc gia và đồng thời niêm yết tại cửa hàng. Dữ liệu phải có dấu thời gian, lịch sử giá và khả năng đối chiếu với hóa đơn điện tử. Không thể trao quyền quyết định giá mà cơ quan quản lý và người tiêu dùng lại biết giá chậm hơn doanh nghiệp.

5.png

-Chuyển trọng tâm giám sát từ “mức giá” sang “hành vi thị trường”. Cơ quan cạnh tranh và cơ quan quản lý giá cần có công cụ phát hiện các hành vi thông đồng, chia sẻ thị trường, lạm dụng vị thế thống lĩnh hoặc tăng giá bất thường tại những khu vực cạnh tranh yếu. Đặc biệt nên xây dựng bản đồ cạnh tranh xăng dầu theo địa bàn thay vì chỉ nhìn số lượng doanh nghiệp trên toàn quốc.

-Không được đánh đổi an ninh nguồn cung lấy tự do định giá. Năm 2026, tổng nguồn tối thiểu được phân giao gần 31,8 triệu m³/tấn. Điều này cho thấy bảo đảm nguồn cung vẫn là nhiệm vụ chiến lược. Quyền tự chủ về giá phải đi kèm trách nhiệm dự trữ, nghĩa vụ cung ứng và cơ chế ứng phó trong tình huống đứt gãy nguồn hàng. Dự thảo cũng đang yêu cầu thương nhân đầu mối trong hai năm liên tiếp phải thực hiện đúng tổng nguồn được giao, tối thiểu 300.000 m³/năm.

-Quy định thật rõ ngưỡng và điều kiện Nhà nước can thiệp khi thị trường bất thường. Một cơ chế thị trường tốt không có nghĩa Nhà nước hoàn toàn đứng ngoài. Nhà nước cần có công cụ ứng phó khi xảy ra khủng hoảng nguồn cung, thiên tai, xung đột địa chính trị hoặc biến động giá cực đoan; nhưng điều kiện can thiệp, thời gian áp dụng và cách thức rút khỏi biện pháp can thiệp phải minh bạch để doanh nghiệp có thể dự báo.

Điều đặc biệt cần lưu ý là thị trường xăng dầu năm 2026 cho thấy mức độ biến động rất lớn. Chẳng hạn, ngày 9/7, giá tối đa xăng E5RON92 là 19.191 đồng/lít, E10RON95-III là 20.003 đồng/lít; đến kỳ điều hành ngày 24/9, các mức tương ứng đã lên 26.397 đồng/lít và 27.087 đồng/lít, còn dầu diesel ở mức 30.497 đồng/lít. Điều đó cho thấy thị trường xăng dầu chịu tác động rất nhanh từ giá quốc tế, tỷ giá, địa chính trị và chính sách thuế. Trong bối cảnh ấy, một cơ chế giá càng thị trường càng cần một hệ thống giám sát thông minh hơn, chứ không phải Nhà nước quản lý ít đi.

Tôi cho rằng có thể cô đọng triết lý của Nghị định mới vào ba vế: Doanh nghiệp được quyền định giá - người tiêu dùng được quyền so sánh - Nhà nước có đủ dữ liệu để giám sát. Nếu làm được ba điều đó, việc bỏ cơ chế Nhà nước trực tiếp công bố giá cơ sở định kỳ sẽ không chỉ là thay đổi cách tính giá xăng dầu, mà có thể trở thành một bước tiến thực sự trong cải cách thị trường. Ngược lại, nếu chỉ trao quyền định giá trong khi cạnh tranh còn hạn chế, dữ liệu không minh bạch và giám sát chưa theo kịp, thì rất có thể chúng ta thị trường hóa quyền quyết định giá nhưng chưa thị trường hóa được cạnh tranh.

Vì vậy, điều quan trọng nhất của lần sửa đổi này không phải là trả lời câu hỏi “ai quyết định giá?”, mà phải trả lời được ba câu hỏi lớn hơn: giá được hình thành trong môi trường cạnh tranh nào, người tiêu dùng có đủ thông tin để lựa chọn hay không, và Nhà nước có đủ dữ liệu để phát hiện cũng như xử lý hành vi làm méo mó thị trường hay không. Đó mới là nền tảng để cơ chế giá xăng dầu vận hành theo đúng nguyên tắc thị trường nhưng vẫn bảo đảm ổn định, an ninh năng lượng và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.

Trân trọng cám ơn những chia sẻ của ông!

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-02 22:07
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/doanh-nghiep-sap-duoc-tu-quyet-gia-xang-dau-pgs-ts-ngo-tri-long-chi-ro-dieu-kien-de-nguoi-dan-thuc-su-duoc-loi-1469138.html
Đừng bỏ lỡ
    Doanh nghiệp sắp được tự quyết giá xăng dầu, PGS.TS Ngô Trí Long chỉ rõ điều kiện để người dân thực sự được lợi
    POWERED BY ONECMS & INTECH