'Mỏ vàng' trị giá 1,7 tỷ USD tại Trung Quốc, nơi cung cấp 60% tóc giả cho toàn thế giới
Cung ứng tới 60% lượng tóc giả toàn cầu với doanh thu ngoại thương vượt 1,7 tỷ USD trong nửa đầu năm 2026, thành phố Hứa Xương vẫn đang đối mặt với bài toán nan giải.
Tại Hứa Xương, một thành phố thuộc tỉnh Hà Nam ở miền trung Trung Quốc, nghề làm tóc đã có lịch sử kéo dài từ thế kỷ 16. Khởi đầu bằng việc làm đạo cụ cho các đoàn kịch hát, địa phương này ngày nay đã trở thành nơi cung ứng khoảng 60% lượng tóc giả trên toàn cầu.
Số liệu từ cơ quan thương mại địa phương cho thấy, riêng nửa đầu năm 2026, tổng giá trị xuất nhập khẩu của ngành công nghiệp này đạt 11,56 tỷ nhân dân tệ (tương đương 1,72 tỷ USD), tăng gần 11% so với cùng kỳ năm trước. Trọng tâm của ngành tập trung tại quận Kiến An với 311 doanh nghiệp xuất khẩu liên tục vận chuyển các kiện hàng đi khắp thế giới.

Nghề tóc tại đây được lưu giữ trong các tài liệu lịch sử từ thời nhà Minh (1368–1644), thời điểm người dân bắt đầu đi lượm tóc thật để làm đạo cụ sân khấu và râu giả. Bước chuyển mình sang quy mô công nghiệp diễn ra vào năm 1900, khi ông Bạch Tích Hòa ở thôn Toàn Điếm bắt tay cùng một thương nhân người Đức mở trạm thu mua tóc. Dân làng nhanh chóng tỏa đi khắp đất nước tìm nguồn nguyên liệu thô rồi đưa về tập kết tại Kiến An.
Đến những năm 1930, Hứa Xương đã hình thành hàng chục xưởng sản xuất "đương phát" – loại bán thành phẩm từ tóc tự nhiên sau khi được gội sạch, duỗi thẳng, phân loại và buộc lọn để xuất khẩu qua các cảng Thanh Đảo và Vũ Hán sang Nhật Bản hay Philippines.
Nhiều gia đình nông thôn lập xưởng gia công ngay tại nhà, hình thành nên một ngành nghề truyền thống: đàn ông bôn ba khắp chốn thu mua tóc, còn phụ nữ ở nhà tỉ mẩn đan từng sợi, công việc đòi hỏi ít nhất nửa năm học việc mới có thể làm chủ kỹ năng.

Dù sở hữu nguồn nguyên liệu và tay nghề dồi dào, các cơ sở ở Hứa Xương từng trải qua giai đoạn dài rơi vào thế bị động. Khi kinh tế Trung Quốc mở cửa cuối thập niên 1970 và đầu 1980, các doanh nghiệp Hàn Quốc nắm giữ hơn 80% thị trường sản phẩm tóc tại Mỹ và khống chế hoàn toàn mạng lưới phân phối quốc tế. Họ thu mua tóc thô từ Hứa Xương rồi bán thành phẩm tới các cửa hàng làm đẹp nước ngoài, đẩy các xưởng Trung Quốc vào cảnh gia công thuần túy với biên lợi nhuận bèo bọt.
Ông Điền Lương Quân, Phó chủ tịch Hiệp hội Sản phẩm Tóc Hứa Xương, nhớ lại thời điểm các đại diện thu mua nước ngoài nắm quyền sinh sát, thậm chí yêu cầu người dân bản địa bưng từng chậu nước rửa tay sau mỗi đợt kiểm hàng.

Cục diện chỉ thực sự xoay chuyển vào năm 1990 nhờ ông Trịnh Hữu Toàn, một thợ làm tóc từ thuở nhỏ sinh năm 1954 tại thôn Tiểu Cung. Nhận thấy điểm nghẽn nằm ở máy may ba đầu – cỗ máy then chốt không được sản xuất trong nước và các đối tác quốc tế từ chối bán – ông Trịnh tìm đến một công nhân về hưu ở Thanh Đảo để vẽ lại sơ đồ máy móc hoàn toàn từ trí nhớ.
Đội ngũ kỹ sư địa phương sau đó chế tạo thành công thiết bị, cho ra đời sản phẩm tóc giả xuất khẩu đầu tiên mang thương hiệu Kỳ Thải Tú Phát.
Đến năm 1993, ông liên doanh với Sina International Corp thành lập nên Rebecca Hair và thâm nhập thẳng vào thị trường Bắc Mỹ. Doanh nghiệp này chính thức niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải vào năm 2003, mở ra thời kỳ Hứa Xương rũ bỏ vị thế bán nguyên liệu thô để bước vào sân chơi của các nhà sản xuất thành phẩm hoàn chỉnh.

Làn sóng thương mại điện tử xuyên biên giới bùng nổ từ giữa thập niên 2010 tiếp tục tạo nên bước ngoặt loại bỏ hoàn toàn các khâu trung gian. Các thương hiệu nội địa như UNice tận dụng sàn thương mại điện tử từ năm 2014 trước khi lập website riêng bốn năm sau đó, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại cả Trung Quốc, Liên minh châu Âu và Mỹ nhằm thoát khỏi cảnh bị phụ thuộc vào luật chơi của bên thứ ba.
Trước những cú sốc thị trường, chẳng hạn như đợt Mỹ áp thuế bổ sung tích lũy lên tới 145% đối với sản phẩm tóc Trung Quốc vào năm 2025 khiến hàng loạt xưởng gia công phụ thuộc vào bưu kiện nhỏ phải dừng hoạt động, hệ thống kho bãi đặt sẵn tại Bắc Mỹ đã trở thành chiếc phao cứu sinh của nhiều đơn vị như doanh nghiệp của ông Bách Lộ Văn tại Kiến An. Kho hàng hải ngoại không chỉ triệt tiêu rủi ro logistics mà còn rút ngắn thời gian giao hàng từ vài tuần lênh đênh trên biển xuống chỉ còn một ngày.

Tận dụng sức mạnh số, thương hiệu OQ Hair đã bán được hơn 10 triệu nhân dân tệ chỉ trong vòng sáu tháng sau khi tung ra video quảng bá đạt 3 triệu lượt xem về dòng tóc giả không cần keo dán, giúp tối ưu hóa thời gian sử dụng từ 30 phút xuống chỉ vài giây.
Tuy nhiên, phía sau các kỷ lục doanh số là áp lực biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp. Các sàn thương mại điện tử như Amazon, AliExpress và Temu áp mức phí hoa hồng từ 5% đến 20%, kèm theo vô số quy định thay đổi liên tục khiến doanh nghiệp không thể chủ động ấn định giá bán hay mặt hàng.
Cùng lúc, cuộc khủng hoảng lao động đang lộ rõ khi một bộ tóc móc tay cần thợ giỏi làm việc liên tục suốt một tuần nhưng thế hệ trẻ không còn muốn gắn bó với nhà máy. Dù nhiều nơi đưa ra mức lương 8.000 nhân dân tệ mỗi tháng – cao hơn mặt bằng chung – các dây chuyền vẫn đỏ mắt tìm thợ, buộc một số công đoạn thâm dụng lao động phải chuyển dịch gia công sang nước ngoài.
Để không bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh giá rẻ ở phân khúc thấp, các doanh nghiệp đầu ngành tại Hứa Xương đang dồn lực cho nghiên cứu nhằm tự động hóa dây chuyền sản xuất và định vị phân khúc cao cấp. Bên cạnh đó, mô hình bán lẻ trực tiếp cũng được chú trọng với việc vận hành Trung tâm Triển lãm và Thương mại Tóc Hứa Xương từ năm 2022 gần các đầu mối giao thông của thành phố.
Nơi đây trưng bày đủ loại sản phẩm, từ các mẫu tóc sợi nhân tạo giá vài chục nhân dân tệ cho đến những bộ tóc móc tay bằng tóc thật trị giá trên 10.000 nhân dân tệ, đạt doanh thu khoảng 200 triệu nhân dân tệ mỗi năm. Dù phần lớn người mua hiện vẫn là khách nội địa, lượng đối tác quốc tế tìm đến trực tiếp đang tăng lên, đưa kinh đô tóc giả bước vào giai đoạn khẳng định vị thế bằng chất lượng sản phẩm nguyên bản thay vì chỉ chạy theo số lượng.