Mỗi năm, hơn 40.000 bé gái không có cơ hội chào đời tại Việt Nam
Nguyên nhân chủ yếu là tình trạng lựa chọn giới tính trước sinh, xuất phát từ tâm lý ưa thích con trai và định kiến giới.
Thiếu hụt khoảng 40.800 trẻ em gái sơ sinh
Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam vẫn cao hơn mức cân bằng tự nhiên. Theo dự báo dân số giai đoạn 2024-2074, tình trạng mất cân bằng kéo dài có thể khiến số nam giới trong độ tuổi kết hôn vượt số nữ giới cùng nhóm tuổi khoảng 1,3 triệu người vào năm 2049.
Tỷ số giới tính khi sinh (Sex Ratio at Birth - SRB) được tính bằng số bé trai sinh ra sống trên 100 bé gái sinh ra sống trong cùng thời kỳ. Theo Luật Dân số, tỷ số này được xem là cân bằng khi nằm trong khoảng 104-106 bé trai trên 100 bé gái. Khi chỉ số vượt ra ngoài khoảng trên, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh được xác định.
Tại Việt Nam, tình trạng này đã kéo dài nhiều năm và chưa được khắc phục. Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 do cơ quan thống kê công bố, tỷ số giới tính khi sinh của cả nước đạt 111,4 bé trai/100 bé gái, cao hơn đáng kể so với mức cân bằng tự nhiên. Trong khi đó, tỷ số giới tính của nhóm trẻ em từ 0-14 tuổi là 109,7 bé trai/100 bé gái. Đây là hai chỉ số khác nhau, lần lượt phản ánh tình trạng giới tính tại thời điểm sinh và cơ cấu giới tính của nhóm trẻ em.
Đến năm 2025, theo Cục Dân số thuộc Bộ Y tế, tỷ số giới tính khi sinh giảm còn 110 bé trai/100 bé gái. Dù đã giảm so với năm trước, mức này vẫn cho thấy tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam còn đáng kể.

Sự chênh lệch còn thể hiện rõ giữa các vùng. Theo số liệu năm 2024 được cung cấp, Đồng bằng sông Hồng có tỷ số giới tính khi sinh 113,2 bé trai/100 bé gái, trong khi Trung du và miền núi phía Bắc đạt 115,3 bé trai/100 bé gái. Những con số này cho thấy tình trạng mất cân bằng không phân bố đồng đều mà có mức độ khác nhau giữa các khu vực.
Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh được phát hiện tại Việt Nam từ năm 2004 và gia tăng nhanh từ năm 2005. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 ghi nhận tỷ số giới tính khi sinh ở mức 111,5 bé trai/100 bé gái.
Báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới năm 2020 của UNFPA ước tính Việt Nam thiếu hụt khoảng 40.800 trẻ em gái sơ sinh mỗi năm do lựa chọn giới tính trước khi sinh. Nguyên nhân chủ yếu được chỉ ra là tình trạng lựa chọn giới tính trước khi sinh, gắn với tâm lý ưa thích con trai và định kiến giới. Khi mong muốn có con trai khiến một số gia đình tìm cách lựa chọn giới tính thai nhi, cơ cấu giới tính của trẻ sinh ra bị thay đổi so với quy luật sinh học tự nhiên.
Nguy cơ thiếu hụt phụ nữ trong độ tuổi kết hôn kéo dài nhiều thập kỷ
Hệ quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ thể hiện ở nhóm trẻ mới chào đời mà còn tích lũy theo thời gian, ảnh hưởng đến cơ cấu dân số khi các thế hệ trưởng thành.
Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, số nam giới trong độ tuổi kết hôn từ 20-39 tuổi nhiều hơn số nữ giới cùng nhóm tuổi khoảng 415.200 người.
Trong dự báo dân số giai đoạn 2024-2074, Cục Thống kê xây dựng 3 kịch bản về mức sinh, gồm kịch bản thấp với tổng tỷ suất sinh 1,45 con/phụ nữ, kịch bản trung bình 1,85 con/phụ nữ và kịch bản cao 2,01 con/phụ nữ. Các kết quả dự báo phụ thuộc vào giả định về mức sinh và những biến động dân số trong tương lai.
Theo kịch bản mức sinh trung bình, đến năm 2029, cứ 100 nam giới trong độ tuổi kết hôn từ 20-39 tuổi sẽ có hơn 3 người thuộc diện dư thừa so với số phụ nữ cùng nhóm tuổi. Đến năm 2034, chênh lệch dự kiến tăng lên khoảng 711.700 nam giới, tương đương 4,9% dân số nam trong độ tuổi này.
Sau năm 2034, tình trạng dư thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn được dự báo tiếp tục gia tăng. Đến năm 2049, số nam giới nhiều hơn số nữ giới cùng nhóm tuổi có thể đạt khoảng 1,3 triệu người, mức cao nhất trong giai đoạn dự báo.
Theo kịch bản này, sau năm 2049, chênh lệch được dự báo giảm dần do giả định tỷ số giới tính khi sinh từng bước trở lại trạng thái cân bằng từ sau năm 2034. Tuy nhiên, tác động của tình trạng mất cân bằng trong những thập kỷ trước vẫn tiếp tục hiện diện trong cơ cấu dân số.
Đến năm 2074, số nam giới trong độ tuổi kết hôn được dự báo vẫn nhiều hơn số nữ giới cùng nhóm tuổi khoảng 829.000 người. Điều này cho thấy ngay cả khi tỷ số giới tính khi sinh được cải thiện, những hệ quả nhân khẩu học đã hình thành vẫn có thể kéo dài trong nhiều thập kỷ.

Chính sách mới nhằm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh
Trước tình trạng trên, Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp về dân số, bình đẳng giới và kiểm soát hành vi lựa chọn giới tính thai nhi. Tính đến năm 2026, Luật Dân số số 113/2025/QH15 là một cơ sở pháp lý quan trọng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Theo Điều 6 của Luật Dân số, hành vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức bị nghiêm cấm. Việc thông báo hoặc tiết lộ giới tính thai nhi cũng bị nghiêm cấm, trừ trường hợp phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến giới tính theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều 15 của luật quy định các biện pháp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, trong đó khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư. Luật cũng quy định việc đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đối với người có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai theo pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Cơ quan thống kê trung ương có trách nhiệm công bố tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh hằng năm để Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh xây dựng biện pháp can thiệp phù hợp.
Cùng với đó, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, bổ sung cơ sở xử lý các vi phạm thuộc lĩnh vực này. Thông tư số 11/2026/TT-BYT của Bộ Y tế, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định danh mục bệnh được phép thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi nhằm phục vụ chẩn đoán và điều trị. Quy định này xác định phạm vi ngoại lệ về chuyên môn, không phải là cho phép lựa chọn giới tính thai nhi theo mong muốn.
Bên cạnh việc thực thi pháp luật, Luật Dân số cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông, vận động và giáo dục về dân số, trong đó có giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao vai trò của phụ nữ và trẻ em gái, thúc đẩy xóa bỏ định kiến giới. Đây là những nội dung cần được triển khai đồng bộ với việc kiểm tra, giám sát và xử lý hành vi vi phạm.