Người Hà Nội đầu tiên sở hữu ô tô chạy bằng xăng: Làm chủ doanh nghiệp có hơn 2.500 nhân viên, để lại bản di chúc 30 trang
Từ chàng nông dân nghèo tới “anh ký Bưởi”, giới tư bản lúc này còn gọi ông là “Chúa sông Bắc Kỳ”.
Đầu thế kỷ XX, ô tô bắt đầu xuất hiện tại Hà Nội cùng quá trình du nhập phương tiện cơ giới từ châu Âu. Từ chiếc xe chạy bằng hơi nước thuộc sở hữu của một linh mục người Pháp đến những mẫu Peugeot, Citroën, Ford được nhập khẩu sau đó, ô tô dần hình thành thị trường riêng tại thành phố. Tuy nhiên, giá bán cao và chi phí sử dụng khiến phương tiện này chủ yếu nằm trong tay người Pháp và một bộ phận doanh nhân Việt Nam có tiềm lực kinh tế.
Tài sản đắt đỏ của giới nhà giàu
Năm 1901, chiếc ô tô đầu tiên được ghi nhận xuất hiện tại Hà Nội thuộc sở hữu của linh mục người Pháp Puginier. Xe sử dụng động cơ hơi nước, có mặt trên đường phố trong bối cảnh giao thông đô thị vẫn chủ yếu dựa vào xe kéo tay, xe ngựa và các phương tiện thô sơ.
Năm 1906, Công ty Xăng dầu Asiatic Petroleum mở cửa hàng bán lẻ đầu tiên tại Phúc Tân, gần cầu Long Biên, góp phần tạo điều kiện cho hoạt động sử dụng ô tô. Cùng năm, chủ cơ sở kinh doanh xe kéo tay Omnium là một người Pháp sở hữu 2 chiếc Prima 4. Sau 2 năm sử dụng, người này bán lại cả 2 xe.

Năm 1913, doanh nhân Bạch Thái Bưởi trở thành người Hà Nội đầu tiên được ghi nhận mua ô tô. Chiếc xe mang nhãn hiệu Peugeot, sử dụng động cơ xăng và có giá 1 triệu franc. Đây là loại tiền giấy do Ngân hàng Đông Dương phát hành, lưu hành tại 3 nước Đông Dương thời bấy giờ.
Ô tô chạy bằng xăng được phát triển tại Đức từ năm 1885. Sau gần 3 thập niên, phương tiện này đã xuất hiện trong tài sản của một doanh nhân tại Hà Nội, phản ánh sự du nhập công nghệ và những thay đổi ban đầu trong hoạt động kinh doanh của tầng lớp giàu có.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Uẩn trong bộ sách “Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX”, giai đoạn 1925-1927, thành phố có gần 30 ô tô thuộc sở hữu của người Pháp và người Việt. Con số này tương đồng với thống kê được đăng trên báo Phụ nữ tân văn số ra ngày 6/7/1933.

Dù số lượng xe còn ít, hoạt động quảng cáo và bán ô tô trả góp đã xuất hiện tại Hà Nội. Năm 1917, các báo tiếng Pháp xuất bản tại thành phố đăng quảng cáo xe con của Citroën và Peugeot. Citroën đưa ra phương thức trả góp trong 12 tháng, còn Peugeot giới thiệu mẫu 12-SX với hộp số 4 cấp và 5 chỗ ngồi.
Trong giai đoạn 1900-1930, ô tô nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu đến từ Pháp, với các thương hiệu Renault, Peugeot, Citroën, Panhard, Berliet và Hotchkiss. Những hãng xe Mỹ như Ford, Chrysler và General Motors cũng dần có mặt trên thị trường.
Chi phí mua xe là rào cản lớn đối với người dân muốn sở hữu ô tô. Theo một số tài liệu, năm 1920, giá một chiếc xe vào khoảng 33 triệu franc, tương đương 8.000 đồng bạc Đông Dương. Trong khi đó, một tạ gạo có giá khoảng 6 đồng bạc.
Chênh lệch giá cả cho thấy ô tô vượt xa khả năng chi trả của phần lớn cư dân thành thị. Chính sách nhập khẩu thời kỳ đầu ưu tiên xe sản xuất tại Pháp, hạn chế phương tiện từ Đức, Italy và Mỹ, tạo lợi thế cho các hãng xe Pháp.
Từ năm 1921, xe của Mỹ, Italy và Anh bắt đầu được nhập khẩu vào Việt Nam nhưng phải chịu mức thuế lên tới 50%. Cạnh tranh trên thị trường khiến các hãng xe Pháp điều chỉnh giá bán. Một số tài liệu ghi nhận giá xe giảm từ khoảng 33 triệu franc xuống còn 13 triệu franc trong giai đoạn này.
Dù giá bán có xu hướng giảm, ô tô vẫn là tài sản đắt đỏ. Chủ xe còn phải chi trả tiền nhiên liệu, bảo dưỡng và thuế đường. Vì vậy, phương tiện này chủ yếu phục vụ người Pháp, giới kinh doanh giàu có và những người có điều kiện kinh tế tại Hà Nội.
Đại gia Việt được mệnh danh là “Vua tàu thủy Việt Nam”
Bạch Thái Bưởi, còn được gọi là Tứ Bưởi, “Vua tàu thủy” hay “chúa sông Bắc Kỳ”, là doanh nhân nổi tiếng đầu thế kỷ XX. Ông sinh năm 1874 tại làng An Phúc, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình nông dân nghèo mang họ Đỗ. Sau khi cha mất sớm, ông phụ giúp mẹ kiếm sống bằng nghề bán hàng rong. Một gia đình khá giả họ Bạch nhận ông làm con nuôi, cho ăn học và từ đó ông đổi sang họ Bạch.

Trong thời gian học chữ quốc ngữ và tiếng Pháp, ông bỏ học để làm ký lục cho một hãng buôn của người Pháp tại phố Tràng Tiền. Năm 1894, ông chuyển sang làm việc tại một xưởng thuộc hãng thầu công chính - nơi ông tiếp xúc với máy móc và học hỏi phương thức tổ chức, quản lý sản xuất.
Năm 1895, Bạch Thái Bưởi được Phủ Thống sứ Bắc Kỳ lựa chọn sang Pháp tham gia giới thiệu sản phẩm Việt Nam tại Hội chợ Bordeaux. Chuyến đi giúp ông tìm hiểu hoạt động thương mại và phương thức kinh doanh của phương Tây.
Sau khi trở về nước, ông tham gia cung cấp tà vẹt gỗ cho Sở Hỏa xa Đông Dương, phục vụ hoạt động xây dựng đường sắt. Trong khoảng 3 năm, ông tích lũy được nguồn vốn đáng kể, sau đó mở rộng kinh doanh sang nhiều lĩnh vực.
Năm 1909, Bạch Thái Bưởi bước vào ngành vận tải đường sông bằng việc thuê lại 3 chiếc tàu của một hãng tàu Pháp vừa hết hợp đồng với chính quyền. Ông đổi tên các tàu thành Phi Phụng, Phi Long và Khoái Tử Long, khai thác tuyến Nam Định - Hà Nội và Nam Định - Bến Thủy, nay thuộc Nghệ An.
Hoạt động kinh doanh của ông gặp sự cạnh tranh quyết liệt từ các hãng tàu Pháp và Hoa kiều. Để thu hút khách, ông đặt tên tàu theo các nhân vật lịch sử Việt Nam, tổ chức diễn thuyết tại bến tàu và kêu gọi người Việt sử dụng dịch vụ vận tải của doanh nghiệp trong nước. Chiến lược này góp phần giúp hãng tàu của ông phát triển, từng bước mua lại đội tàu của các doanh nghiệp đối thủ gặp khó khăn.
Năm 1917, hãng Deschwanden phá sản, Bạch Thái Bưởi mua lại 6 chiếc tàu của hãng. Đến năm 1919, doanh nghiệp của ông có hàng chục tàu và sà lan, hoạt động trên nhiều tuyến đường thủy tại miền Bắc và kết nối với các cảng trong khu vực.
Ước tính mỗi năm doanh nghiệp của ông thực hiện khoảng 5.000 chuyến tàu, chuyên chở khoảng 1,5 triệu hành khách cùng hơn 150.000 tấn hàng hóa. Số lượng nhân viên lên tới 2.500 người làm việc trên các đội tàu, xưởng đóng tàu.
Ngày 7/9/1919, công ty của Bạch Thái Bưởi hạ thủy tàu Bình Chuẩn tại Cửa Cấm, Hải Phòng. Con tàu dài khoảng 42m, trọng tải 600 tấn, được thiết kế và thi công bởi người Việt. Sự kiện này trở thành dấu mốc đáng chú ý trong hoạt động đóng tàu của doanh nghiệp Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Bên cạnh vận tải thủy, Bạch Thái Bưởi còn đầu tư vào khai thác than, bất động sản và in ấn. Ông xây dựng nhà in Đông Kinh ấn quán tại Hà Nội, đồng thời xuất bản Khai hóa nhật báo, với số đầu tiên ra ngày 15/7/1921 theo một số tài liệu. Ông cũng có các dự định đầu tư vào nhà máy xay gạo, nhà máy nước, nhà máy điện và tuyến đường sắt Nam Định - Hải Phòng.
Bạch Thái Bưởi qua đời năm 1932, ở tuổi 58, sau một cơn đau tim. Theo thông tin do hậu duệ gia đình chia sẻ, ông để lại bản di chúc viết bằng tiếng Pháp, dài khoảng 30 trang, phân chia tài sản cho con cháu. Khối tài sản gồm bất động sản tại nhiều địa phương, ngân phiếu, đội tàu và các cơ sở kinh doanh.