Ông lão 91 tuổi dành dụm lương hưu dựng ‘bảo tàng’ Bác Hồ: Bật khóc trước hình ảnh Bác ‘gầy gò, râu tóc bạc’, dành gần 10 năm viết 1.456 câu thơ lục bát về cuộc đời Người
Cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1963 trở thành dấu mốc đặc biệt, thôi thúc ông dành hàng chục năm sưu tầm ảnh, tư liệu và dựng nên một không gian lưu niệm về Bác Hồ ngay trong ngôi nhà của mình.

Cuối tháng 8, trong những ngày Hà Nội ngập sắc cờ đỏ hướng tới Quốc khánh 2/9, tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ của ông Trần Văn Cao (SN 1935), nằm sâu trong thôn 2, xóm Thọ Đường (phường Chương Mỹ, TP. Hà Nội). Ở tuổi 91, ông vẫn dành nhiều thời gian tìm hiểu, ghi chép và kể lại những câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về ngày 2/9/1945 và những năm tháng đất nước đi qua chiến tranh, đói nghèo để có được cuộc sống hôm nay.
Ông Cao dẫn tôi lên tầng 3, nơi ông dành nhiều năm và tiền lương hưu tích góp để xây dựng phòng lưu niệm Bác Hồ. Căn phòng rộng hơn 50m2, chia thành 2 gian trưng bày. Gần 1.000 bức ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh được ông sắp xếp theo từng giai đoạn, từ tuổi thơ, gia đình, hành trình ra đi tìm đường cứu nước đến những năm tháng Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hàng chục năm qua, ông Trần Văn Cao đi nhiều nơi, xin từng tấm ảnh, mảnh báo, tư liệu có liên quan đến Bác rồi mang về lưu giữ.

Ông Cao dẫn tôi đi dọc những bức tường, dừng lại trước từng khung ảnh và kể về nguồn gốc, thời điểm, sự kiện gắn với mỗi bức. Có thông tin ông vẫn nhớ từ những chương trình phát thanh từng nghe cách đây hàng chục năm, có bức ảnh ông phải mất nhiều thời gian tìm kiếm, đối chiếu trước khi đưa vào bộ sưu tập. Người dân địa phương gọi căn phòng ấy là “Bảo tàng về Bác Hồ”.

Những năm tháng đầu đời của ông Trần Văn Cao gắn với một làng quê nghèo, khi đời sống người dân còn nhiều thiếu thốn và những khái niệm về cách mạng với một đứa trẻ như ông vẫn rất xa vời.
Gia đình ông sống trong vài gian nhà lợp rạ, tường đất. Trận mưa bão năm 1955 khiến nước tràn vào nhà, sân và nền nhà gần như cùng một mặt. Ở vùng quê nhiều đồng nước, ông cùng người dân mò cua, bắt ốc, hái rau dại, rau lang, đào củ khoai để sống qua ngày. Đêm đến, cậu bé Trần Văn Cao nằm ngủ trên ổ rơm, bên dưới trải lá chuối. Chuyện tắm rửa cũng chỉ đơn giản là xuống ao bèo rửa mặt.
Chia sẻ với PV, ông Trần Văn Cao nhớ lại: “Quê hương tôi lúc bấy giờ nghèo nàn, lạc hậu lắm. Bản thân tôi hồi ấy ngủ trên ổ rơm, trải lá chuối xuống đất rồi nằm. Tắm rửa thì ra ao bèo. Rau dại, rau lang... có gì thì kiếm cái ấy để ăn, có lúc còn phải hái trộm về nấu. Chúng tôi cứ thế mò cua, bắt ốc, hái rau sống qua ngày.
Rồi thời gian trôi đi, đến khi đánh Pháp, sau đó hòa bình lập lại, có Đảng, có cách mạng thì người dân mới dần có miếng cơm ăn. Bởi thế, những người như tôi phải suy nghĩ cho kỹ, phải biết ơn Đảng, biết ơn Bác Hồ. Nếu không có Bác Hồ, không có cách mạng, tôi không biết đất nước Việt Nam hôm nay sẽ ở đâu, người dân sẽ sống như thế nào”.

Lần đầu ông Trần Văn Cao biết đến Bác Hồ cũng bắt đầu từ những câu chuyện được người lớn kể lại. Trong ký ức của ông, các cụ trong làng thường kể Bác Hồ là người lãnh đạo dân ta, thậm chí ví Bác như thần thánh, như tiên, như Phật về giúp dân Việt Nam. Phải đến khi trưởng thành, được đi học, ông Cao mới dần hiểu rõ hơn về Bác Hồ và cách mạng.
Ông dành nhiều thời gian nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Càng tìm hiểu, ông càng chú ý đến những năm tháng Bác xa quê hương, hoạt động cách mạng ở nước ngoài và quá trình trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam. “Có lúc mình nghĩ cuộc đời mình đã vất vả lắm rồi nhưng Bác Hồ còn vất vả gấp trăm nghìn lần”, ông Cao nói.
Năm 1963, khi đang là thực tập sinh tại Khu Gang thép Thái Nguyên, ông có dịp gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị xã Thái Nguyên cũ. Được trực tiếp gặp Bác, lắng nghe những lời căn dặn của Người dành cho cán bộ, công nhân về rèn luyện tinh thần cách mạng, giữ vững lập trường giai cấp, cuộc gặp trở thành một dấu mốc khó quên trong cuộc đời ông Cao. Từ đó, ông bắt đầu ấp ủ tâm nguyện xây dựng một phòng lưu niệm về Bác Hồ. Tuy nhiên, mong muốn ấy phải mất hơn 20 năm mới có điều kiện thực hiện.

Thời điểm đó, đất nước vẫn trong chiến tranh, ông Trần Văn Cao vừa công tác tại Bộ Thủy lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), vừa có thời gian được phân công sang Lào giúp nhân dân vùng giải phóng sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế. Trong quá trình công tác, ông được Bộ Thủy lợi tặng Bằng khen sau thời gian thực hiện nhiệm vụ tại Lào. Khi trở về nước và công tác tại Sở Thủy lợi Hà Sơn Bình (cũ), ông tiếp tục được UBND tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) tặng Bằng khen.
Đến năm 1987, ở tuổi 52, ông xin nghỉ hưu. Hoàn cảnh gia đình khi ấy vẫn khó khăn, vợ con còn thiếu thốn nên ý tưởng về một phòng lưu niệm Bác Hồ tiếp tục phải gác lại. Ông Cao tiếp tục làm ruộng, chăn vịt để lo cho cuộc sống.

Năm 2007, khi nhận thấy nếu tiếp tục chờ đợi thì tâm nguyện có thể không bao giờ thành hiện thực, ông Cao bắt đầu làm từ những gì mình có. Trong số những tư liệu ông lưu giữ, có 21 tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh được tặng từ năm 1968 khi ông đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua trong ngành Thủy lợi.
Ông Cao mang số ảnh này đi in lại với chi phí khoảng 80.000 đồng/tấm (tổng cộng 1,7 triệu đồng), trong khi thời điểm đó lương hưu của ông chỉ hơn 200.000 đồng. Sau đó, ông đóng khung và treo những bức ảnh tại phòng khách. Bên cạnh ảnh, ông tự vẽ thêm Làng Sen, ngôi nhà của Bác Hồ và Bến Nhà Rồng, tái hiện hành trình Người rời quê hương ra đi tìm đường cứu nước.
Từ những bức ảnh ban đầu, ông Trần Văn Cao tiếp tục tìm kiếm, bổ sung tư liệu qua từng chuyến đi. Mỗi khi có dịp đến các địa phương, dù thăm người thân hay đi ăn cỗ, ông đều tranh thủ hỏi xin ảnh, báo và những tư liệu liên quan đến Bác. Có lần đến Bắc Kạn cũ (nay thuộc tỉnh Thái Nguyên) phúng viếng, trong khi mọi người chỉ ở lại 1 ngày, ông nán lại thêm vài ngày để đi tìm ảnh. Có chuyến trở về hết tiền, ông phải nhịn ăn.

Song song với quá trình sưu tầm ảnh, ông Cao dành gần 10 năm (từ năm 2010-2020) để sáng tác bản sử ca dài 1.456 câu thơ lục bát về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những gì tìm hiểu được về từng giai đoạn trong cuộc đời Bác trở thành chất liệu để ông viết, đồng thời bài thơ cũng giúp ông hệ thống lại những tư liệu đã sưu tầm.
Cuối năm 2019, ông Cao quyết định dành 15m2 trên tầng 3 của gia đình để mở phòng lưu niệm Bác Hồ. Từ những tư liệu đã âm thầm sưu tầm suốt nhiều năm, ông bắt đầu sắp xếp thành một không gian trưng bày riêng.
Ban đầu, ông nghĩ thực hiện được một phòng lưu niệm nhỏ như vậy cũng đã là sự tự động viên đối với bản thân. Tuy nhiên, khi màn đêm buông xuống, ông lại tiếp tục trăn trở. Trong suy nghĩ của ông Cao, một đất nước đã đi qua biết bao biến động, một chặng đường cách mạng và cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu chỉ được lưu lại trong một căn phòng nhỏ thì vẫn chưa đủ.
Năm 2022, ông Trần Văn Cao dành khoảng 40 triệu đồng tiền lương hưu tích góp trong nhiều năm, đồng thời vay mượn thêm để sửa sang, mở rộng không gian phòng lưu niệm lên khoảng 50m2. Riêng những khung nhôm kính phục vụ trưng bày, ông đầu tư hơn 10 triệu đồng.

“Tôi không kêu ca gì. Hàng xóm, láng giềng nhiều khi còn chẳng biết tôi đang làm cái gì, chỉ thấy tôi cứ âm thầm sửa sang, làm dần từng chút một. Đến giờ phút này khi nhìn lại, tôi cũng mừng vì mình đã làm được đến thế này. Ban đầu chỉ là một căn phòng nhỏ, rồi cứ làm dần, mở rộng dần. Có khó khăn thì mình tìm cách khắc phục chứ đã quyết tâm làm thì tôi không muốn bỏ dở.
Với tôi, mỗi bức ảnh tìm được đều có một câu chuyện riêng. Có bức từ năm 1968-1969 khiến tôi nhớ đến mong muốn được vào thăm miền Nam của Bác Hồ. Từ Bến Nhà Rồng, Bác ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi trở về lãnh đạo cách mạng, Người chưa một lần được vào thăm đồng bào miền Nam. Tôi nhìn bức ảnh ấy mà rơi nước mắt. Có khi ngồi một mình nhìn lại cũng khóc, không kìm được.
Một bức ảnh khác là hình Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi trong một căn lều cỏ để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Một người đã ngoài 60 tuổi, gầy gò, râu tóc bạc, trong điều kiện thiếu thốn như vậy mà vẫn lãnh đạo cả cách mạng. Nhìn bức ảnh ấy, tôi lại khóc”, ông Cao cho biết.
Ông cũng đặc biệt xúc động trước những hình ảnh ghi lại chặng đường hoạt động đầy gian khổ của Bác. Ngày 28/1/1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Bác trở về Pác Bó (Cao Bằng). Năm 1942, Người sang Trung Quốc để liên hệ với các cơ sở cách mạng và tìm sự hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam rồi bị bắt, trải qua 13 tháng bị giam giữ và bị giải qua gần 30 nhà tù.
Nhiều kiến thức về hành trình hoạt động của Bác Hồ được ông Cao ghi nhớ từ những chương trình phát thanh, truyền hình mà ông đã nghe từ nhiều năm trước.

“Có những chuyện tôi nghe trên vô tuyến, chương trình ‘Hành trình dấu chân Bác Hồ đi khắp thế giới’. Tôi nghe 2-3 lần là thuộc, nhớ trong đầu chứ lúc ấy có chép được vào sách đâu. Sau này, khi chép lại vào sách, tôi nhớ đến đâu thì chép đến đấy”, ông Cao kể.
Theo ông, những gì ông ghi nhớ bao gồm nhiều giai đoạn trong cuộc đời Bác Hồ, từ thời niên thiếu, gia đình đến quá trình Người ra đi hoạt động cách mạng, từng sống và làm việc ở đâu, trải qua những sự kiện nào. Ông cho biết mình có thể nhớ khoảng 80-90% nội dung đã tìm hiểu và nhiều câu chuyện có thể kể lại khá đầy đủ cho người nghe.
Từ khi mở cửa, phòng lưu niệm Bác Hồ đã đón nhiều đoàn khách đến tìm hiểu, viết bài, phỏng vấn, làm luận, cùng các đoàn trường học, học sinh và hội người cao tuổi. Theo ông Cao, đến nay có khoảng 80 đoàn từng tìm đến.
Với người dân trong làng, ông chủ động tìm cách đưa không gian này đến gần cộng đồng. Ông đi mời từng thành viên Hội Người cao tuổi trong làng đến uống nước, nghe ông kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình sưu tầm, xây dựng phòng lưu niệm.
Với những hoạt động xây dựng và duy trì phòng lưu niệm Bác Hồ, ông Cao được Thủ tướng Chính phủ và UBND TP. Hà Nội tặng Bằng khen. Ông cũng được Ban Tuyên giáo Trung ương mời tham dự hội thảo nhân dịp 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và dự Hội nghị Thi đua toàn quốc lần thứ X tại Hà Nội.

Suốt nhiều năm, những tư liệu về Bác Hồ được ông Cao sưu tầm, sắp xếp và kể lại cũng gắn với ký ức về một đất nước đã đi qua chiến tranh, nghèo khó để từng bước đổi thay. Trong những ký ức ấy, ngày 2/9/1945 luôn là một dấu mốc đặc biệt.
Chia sẻ với PV, ông Cao cho biết: “Thời tôi còn trẻ, đất nước còn nhiều khó khăn, chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận nhiều thông tin. Khi ấy, tôi chỉ biết 2/9/1945 là ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, là ngày đất nước giành được tự do, độc lập.
Đến nay, nhìn lại 81 năm kể từ ngày Quốc khánh đầu tiên và 51 năm đất nước thống nhất, tôi vẫn thấy xúc động và tự hào. Ngày trước, quê hương còn nghèo khó, người dân sống trong cảnh thiếu thốn, còn hôm nay đất nước đã có nhiều đổi thay, đời sống ngày càng tốt hơn. Từ chỗ thoát khỏi ách đô hộ, thoát khỏi kiếp lầm than, đất nước đã bước vào thời kỳ đổi mới và từng bước vươn lên”.

Trong ký ức của ông Cao, ngày 2/9 ở những vùng quê trước đây cũng gắn với cờ, khẩu hiệu và những sinh hoạt cộng đồng. Sau hòa bình, tùy từng giai đoạn và từng địa phương, việc tổ chức ngày Quốc khánh có khác nhau nhưng người dân đều treo cờ Tổ quốc, có nơi treo cả cờ Đảng và khẩu hiệu chào mừng.
Những đổi thay của đất nước qua từng chặng đường cũng là điều ông Cao muốn lưu lại trong phòng trưng bày, để thế hệ sau có thể nhìn thấy và hiểu hơn về những năm tháng đã qua. Tuy nhiên, khi tuổi tác ngày càng cao, ông bắt đầu nghĩ nhiều hơn đến câu chuyện ai sẽ tiếp tục công việc mà mình đã dành hàng chục năm gây dựng.
Các con, cháu của ông vẫn phải lo cuộc sống và phát triển kinh tế gia đình. Mỗi người có một công việc, một lựa chọn riêng, trong khi việc sưu tầm, sắp xếp và kể lại những câu chuyện về Bác Hồ đòi hỏi sự kiên trì cùng một tâm nguyện đủ lớn. Vì thế, ông hiểu rằng mình khó có thể yêu cầu con cháu tiếp tục công việc theo cách mình đã làm.


Khi còn sức khỏe và minh mẫn, ông Trần Văn Cao vẫn tự mình đón khách, sắp xếp tư liệu và kể chuyện. Ông Cao cũng mong những hình ảnh, tư liệu được giới thiệu rộng rãi hơn trên mạng xã hội để người trẻ có thêm cơ hội biết đến.
Ở tuổi 91, cuộc sống thường ngày của ông Trần Văn Cao khá giản dị. Khi có thời gian, ông đi tập thể dục, dạo quanh xóm làng hoặc gặp gỡ những người bạn cao tuổi. Trong nhóm bạn của ông, có người nay đã 103 tuổi. Phần lớn thời gian còn lại, ông Cao dành cho “bảo tàng Bác Hồ”. Mỗi khi có học sinh, khách tham quan hay các nhóm nghiên cứu, viết bài tìm đến, ông lại trực tiếp giới thiệu từng tư liệu, kể những câu chuyện đã được ông sưu tầm và ghi nhớ qua nhiều năm.