Tiêu điểm

TS Nguyễn Đức Kiên: Đừng đặt kỳ vọng, nhiệm vụ tăng trưởng quá lớn lên vai bất động sản

Minh Anh • 24/10/2026 12:05

“Đừng đặt “bánh vẽ” nhiệm vụ quá lớn cho bất động sản, điều quan trọng là phát triển thị trường này lành mạnh, đáp ứng nhu cầu thực, đồng thời tạo điều kiện để các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phát triển, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và sức mua của người dân. Đây mới là nền tảng để tăng trưởng kinh tế bền vững”, TS. Nguyễn Đức Kiên nêu quan điểm.

mini(1).jpg

Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm nay đang đặt nền kinh tế trước một bài toán không nhỏ: đầu tư công phải tăng tốc, xuất khẩu phải duy trì đà tăng, trong khi sức mua trong nước vẫn là điểm nghẽn cần tháo gỡ. Nhưng liệu cứ bơm thêm vốn là có thể tạo ra tăng trưởng, khi hiệu quả đầu tư và khả năng hấp thụ vốn vẫn là những vấn đề đáng lo ngại?

Bên lề Hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”, do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp với Hệ sinh thái truyền thông tài chính Người Quan Sát tổ chức, TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đã chia sẻ với chúng tôi về vấn đề này.

Ông cho rằng không thể tiếp tục xem hệ thống ngân hàng như một “túi tiền vô tận” của nền kinh tế, cũng không nên đặt kỳ vọng tăng trưởng quá lớn lên vai bất động sản. Theo ông, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm bao nhiêu nguồn lực, mà là làm thế nào để dòng vốn thực sự tạo ra giá trị, khơi thông sức mua và củng cố năng lực sản xuất của doanh nghiệp.

td1(1).jpg

Thưa ông, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% cả năm, quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Nhìn vào kết quả 9 tháng, ông đánh giá thế nào về khả năng phát huy ba trụ cột tăng trưởng gồm đầu tư công, xuất nhập khẩu và tiêu dùng nội địa trong những tháng cuối năm?

TS. Nguyễn Đức Kiên: Hiện nay, tăng trưởng vẫn dựa trên ba trụ cột chính: đầu tư công, xuất nhập khẩu và thị trường nội địa. Kết quả 9 tháng đầu năm cho thấy cả ba động lực này đều có chuyển biến tích cực, đặc biệt là đầu tư công.

Mặc dù tỷ lệ giải ngân đầu tư công năm nay không chênh lệch nhiều so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng xét về giá trị tuyệt đối, số vốn giải ngân trong 9 tháng đã tăng khoảng 120.000-130.000 tỉ đồng. Đây là mức tăng đáng kể, tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế.

1(1).jpg

Với trụ cột xuất nhập khẩu, xuất khẩu năm nay tăng trên 20%, trong khi nhập khẩu tăng thấp hơn, ở mức trên 10%. Điều đó cho thấy hoạt động thương mại quốc tế tiếp tục là động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là đóng góp của doanh nghiệp Việt Nam vào xuất khẩu lại giảm so với năm 2025. Xuất khẩu tăng trưởng cao là tín hiệu tích cực, nhưng nếu doanh nghiệp trong nước không gia tăng được vai trò và tỷ trọng đóng góp thì chất lượng tăng trưởng vẫn là vấn đề cần quan tâm.

Trụ cột thứ ba là thị trường trong nước, đặc biệt là tiêu dùng nội địa. Đây mới là bài toán cần tập trung giải quyết. Nguồn tiền tiết kiệm trong dân hiện không còn dồi dào như giai đoạn 2021-2025, khiến sức mua và khả năng hỗ trợ thị trường có những hạn chế nhất định.

Vì vậy, yêu cầu quan trọng lúc này là phải có giải pháp thúc đẩy thị trường nội địa, khơi thông sức mua và tạo nền tảng ổn định cho doanh nghiệp phát triển. Khi sức cầu trong nước được củng cố, doanh nghiệp mới có thêm đầu ra, duy trì sản xuất, mở rộng kinh doanh và đóng góp bền vững hơn cho tăng trưởng kinh tế.

Theo ông, đâu là điểm nghẽn cốt lõi khiến các động lực tăng trưởng chưa phát huy hết hiệu quả? Cần có những giải pháp gì để tháo gỡ các rào cản này và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách?

Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu tăng trưởng, việc thúc đẩy giải ngân đầu tư công và đẩy mạnh xuất khẩu là những giải pháp tương đối rõ ràng. Cuối năm cũng là mùa cao điểm xuất khẩu, bởi nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường quốc tế thường tăng mạnh vào dịp Giáng sinh và năm mới.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở sức mua và thị trường trong nước. Về thể chế, chúng ta đã có những bước hoàn thiện, nhưng vấn đề là làm thế nào để các chủ trương, chính sách đi vào thực tiễn một cách hiệu quả.

Nói cách khác, khoảng cách từ nghị quyết đến hành động vẫn là vấn đề cần giải quyết. Muốn tạo chuyển biến thực chất, việc triển khai chính sách phải nhanh hơn, quyết liệt hơn, thay vì dừng lại ở chủ trương hay văn bản. Đây mới là yếu tố quan trọng để khơi thông thị trường trong nước và tạo thêm động lực cho tăng trưởng.

Chính phủ dự kiến nâng bội chi ngân sách lên khoảng 5% GDP và trần nợ công lên 50% GDP. Theo ông, cần sử dụng dư địa tài khóa này như thế nào để thúc đẩy tăng trưởng mà vẫn bảo đảm an toàn nợ công?

Theo tôi, không nên quá lo ngại về các chỉ tiêu nợ công trong bối cảnh hiện nay. Trần nợ công của Việt Nam là 65% GDP, trong khi mức hiện tại khoảng 42–43% GDP. Ngay cả khi nâng trần lên 50% GDP trong giai đoạn 2026–2030, chúng ta vẫn còn khoảng cách so với ngưỡng 65%.

Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc bội chi bao nhiêu hay nợ công tăng thêm bao nhiêu, mà là đồng vốn vay được sử dụng như thế nào, đầu tư vào đâu và tạo ra sức lan tỏa đến nền kinh tế đến mức nào. Nếu nguồn vốn này được đưa vào những dự án có hiệu quả, tạo năng lực sản xuất mới, cải thiện hạ tầng và thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp, thì việc mở rộng dư địa tài khóa có ý nghĩa thiết thực đối với tăng trưởng.

Ngược lại, nếu vốn được phân bổ dàn trải, dự án triển khai chậm hoặc hiệu quả thấp, thì dù các chỉ tiêu nợ công vẫn nằm trong giới hạn cho phép, chúng ta cũng không đạt được mục tiêu phát triển tương xứng với nguồn lực đã huy động.

Vì vậy, điều cần quan tâm nhất là hiệu quả sử dụng vốn và khả năng lan tỏa của các dự án đầu tư, chứ không nên chỉ nhìn vào những con số bội chi hay nợ công để rồi quá thận trọng trong việc huy động nguồn lực cho phát triển.

td2(1).jpg

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, trong khi tín dụng ngân hàng khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu này. Theo ông, cần làm gì để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và chứng khoán trở thành những kênh huy động vốn hiệu quả, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng?

Từ lâu, chúng ta đã quen coi các tổ chức tín dụng là nguồn cung vốn gần như vô tận cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, đến thời điểm này, có thể thấy nền kinh tế cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.

2(1).jpg

Một trong những điểm nghẽn hiện nay là chúng ta chưa kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán vẫn chỉ chiếm tỉ trọng khá nhỏ trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm qua, và xu hướng này vẫn tiếp diễn trong năm 2026.

Theo tôi, cần từng bước thay đổi cơ cấu huy động vốn theo hướng giảm tỉ trọng vốn đầu tư từ các tổ chức tín dụng xuống khoảng 35–40%, đồng thời nâng tỉ trọng huy động qua trái phiếu Chính phủ và thị trường cổ phiếu lên khoảng 15–18%. Khi các kênh vốn được phát triển đồng bộ và có sự phân bổ hợp lý hơn, áp lực cung ứng vốn lên hệ thống ngân hàng sẽ giảm, còn doanh nghiệp có thêm lựa chọn để chủ động huy động nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn. Theo ông, cần dựa vào những chỉ tiêu định lượng nào để đánh giá hiệu quả thực chất của chính sách và chất lượng đầu tư, thay vì chỉ nhìn vào số lượng văn bản được ban hành hay dự án được tháo gỡ? Chỉ số ICOR cần được cải thiện như thế nào?

Hiện nay, chúng ta có nhiều bộ tiêu chí để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, trong đó ICOR là một chỉ số tổng quát phản ánh lượng vốn cần thiết để tạo ra một đơn vị tăng trưởng kinh tế. Theo đánh giá của tôi, ICOR của Việt Nam năm 2025 ở mức cao so với các nước trong khu vực. Đây là một vấn đề cần khắc phục, bởi nếu phải bỏ ra quá nhiều vốn mới tạo ra được một đơn vị tăng trưởng thì hiệu quả đầu tư của nền kinh tế chưa cao.

Muốn cải thiện ICOR, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần tăng cường sự liên thông giữa các cơ quan, bảo đảm tính minh bạch và xử lý nhanh những vướng mắc phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Việc tháo gỡ khó khăn không chỉ dừng ở ban hành văn bản hay rà soát dự án, mà phải thực sự giúp nguồn vốn được đưa vào sản xuất, kinh doanh và phát huy hiệu quả.

3(1).jpg

Về phía doanh nghiệp, cần tôn trọng các quy luật thị trường, chủ động đánh giá nhu cầu, kiểm soát chi phí và củng cố nguồn lực nội tại, thay vì phụ thuộc vào kỳ vọng thị trường tiếp tục tăng trưởng hoặc trông chờ vào nguồn vốn bên ngoài.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp bất động sản đang gặp khó khăn khi thị trường điều chỉnh, giá bán chịu áp lực và nguồn vốn trong dân không còn dồi dào như những năm trước. Điều đó cho thấy doanh nghiệp phải thích ứng với bối cảnh mới, sử dụng vốn thận trọng và nâng cao hiệu quả đầu tư. Về phía nền kinh tế, cải thiện ICOR cần gắn với việc lựa chọn đúng dự án, hạn chế lãng phí và bảo đảm mỗi đồng vốn đầu tư tạo ra giá trị gia tăng thực chất, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.

td3.jpg

Một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay là khơi thông các nguồn lực đang bị đình trệ để tạo thêm động lực tăng trưởng. Hàng nghìn dự án bất động sản tồn đọng với tổng mức đầu tư lên tới hàng triệu tỉ đồng. Nếu các dự án này được tháo gỡ, tác động thực tế đến tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế khác sẽ như thế nào? Làm sao để khơi thông nguồn lực mà không tạo ra một chu kỳ phát triển nóng mới?

Khi các dự án bất động sản tồn đọng được tháo gỡ, thanh khoản thị trường được cải thiện, nguồn vốn đầu tư có điều kiện quay trở lại nền kinh tế. Riêng tổng mức đầu tư của các dự án đang tồn đọng đã lên tới hơn 3 triệu tỉ đồng. Bên cạnh đó, các khoản đầu tư mới thông qua những mô hình phát triển như TOD (phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng) hay BT (xây dựng - chuyển giao) cũng có thể tạo thêm dư địa phát triển cho thị trường bất động sản.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề một cách thực tế. Khơi thông các dự án không có nghĩa là tất cả doanh nghiệp đều đồng loạt mở rộng đầu tư, bởi sự phát triển của thị trường phải đi đôi với khả năng hấp thụ và thanh khoản. Nếu doanh nghiệp chỉ tập trung phát triển dự án mà không tính đến sức mua thực tế, thị trường có thể rơi vào tình trạng dư cung cục bộ, trong khi nhu cầu nhà ở và các sản phẩm bất động sản phù hợp vẫn còn.

Nguyên nhân là doanh nghiệp không nắm bắt đúng đặc điểm thị trường, không kiểm soát tốt chi phí đầu tư, khiến giá thành sản phẩm bị đẩy lên quá cao so với khả năng chi trả của người mua. Khi đó, dù nhu cầu thực vẫn tồn tại, sản phẩm vẫn khó tiêu thụ và thanh khoản thị trường tiếp tục suy giảm.

Vì vậy, khơi thông nguồn lực bất động sản phải đi đôi với kiểm soát chất lượng đầu tư, chi phí phát triển dự án và sức mua của thị trường. Doanh nghiệp cần xác định đúng phân khúc khách hàng, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực và khả năng chi trả. Chỉ khi giải quyết được bài toán thanh khoản, việc tháo gỡ dự án mới có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng bền vững, thay vì tạo ra một chu kỳ đầu tư nóng rồi lại rơi vào đình trệ.


td4-18.jpg

Ông cho rằng không nên xem bất động sản là động lực quyết định toàn bộ tăng trưởng kinh tế. Vậy cần nhìn nhận đúng vai trò của lĩnh vực này như thế nào, nhất là trong mối quan hệ với sản xuất, việc làm và tiêu dùng?

Về mặt lý thuyết, bất động sản có mối liên hệ với hàng chục ngành kinh tế khác nhau, nên những biến động của thị trường này có thể tạo ra tác động lan tỏa rộng. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vai trò của bất động sản trên cơ sở các con số thực tế, không nên cho rằng lĩnh vực này có thể quyết định toàn bộ tăng trưởng kinh tế.

Giai đoạn 2026–2030, tổng nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế ước khoảng 38–39 triệu tỉ đồng. Trong khi đó, tổng mức đầu tư của hơn 4.100 dự án bất động sản đang tồn đọng vào khoảng hơn 3 triệu tỉ đồng. Như vậy, quy mô vốn của nhóm dự án này chỉ chiếm một phần trong tổng nhu cầu đầu tư toàn xã hội. Điều đó cho thấy bất động sản có vai trò quan trọng, nhưng không thể xem đây là động lực duy nhất hay quyết định đối với tăng trưởng kinh tế.

4(1).jpg

Theo tôi, cần nhìn nhận bất động sản như một lĩnh vực có sức lan tỏa lớn, đồng thời phản ánh khá rõ những biến động của nền kinh tế. Khi giá nhà tăng quá cao, người lao động trẻ sẽ gặp khó khăn hơn trong việc mua nhà, lựa chọn nơi sinh sống và quyết định địa điểm làm việc. Chi phí nhà ở cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu cho các nhu cầu khác, từ đó tác động đến tiêu dùng và đời sống xã hội.

Một điểm khác cần lưu ý là bất động sản có thể tạo ra tăng trưởng nhanh trong một chu kỳ đầu tư, nhưng không giống các doanh nghiệp sản xuất, vốn đầu tư vào một dự án bất động sản không tạo ra dòng doanh thu lặp lại liên tục sau khi sản phẩm được bán. Vì vậy, nếu quá phụ thuộc vào bất động sản, nền kinh tế có thể đối mặt với những chu kỳ tăng trưởng nóng rồi suy giảm.

Do đó, đừng đặt “bánh vẽ” nhiệm vụ quá lớn cho bất động sản, điều quan trọng là phát triển thị trường này lành mạnh, đáp ứng nhu cầu thực, đồng thời tạo điều kiện để các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phát triển, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và sức mua của người dân. Đây mới là nền tảng để tăng trưởng kinh tế bền vững.

Ở một số địa phương, nguồn thu từ đất chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách. Theo ông, làm thế nào để chuyển nguồn thu này thành đầu tư tạo ra giá trị gia tăng bền vững, thay vì phụ thuộc vào khai thác đất đai?

Theo tôi, ở một số địa phương, thu từ đất chiếm khoảng 20–22% tổng thu ngân sách, trong khi ở nhiều nơi, tỉ trọng này vào khoảng 10%. Nguồn thu từ đất lớn không phải là vấn đề đáng lo ngại nếu nguồn tiền đó được sử dụng hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng và tiếp tục thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Điều đáng lo là thu được tiền từ đất nhưng đầu tư không hiệu quả, không tạo ra nguồn lực mới cho nền kinh tế, thậm chí dẫn đến những hệ lụy và nguy cơ khủng hoảng.

Trong giai đoạn đầu phát triển, nhiều quốc gia đều dựa một phần vào nguồn thu từ đất. Tuy nhiên, điều quan trọng là sau khi thu được nguồn lực này, Nhà nước phải đầu tư vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và hình thành các dòng vốn mới. Nếu chỉ dựa vào khai thác đất đai mà không tạo ra động lực phát triển tiếp theo, nguồn thu đó sẽ khó duy trì bền vững.

Muốn sử dụng hiệu quả nguồn lực từ đất, trước hết cần tháo gỡ những điểm nghẽn của thị trường bất động sản. Theo tôi, hiện nay có năm vấn đề lớn.

Thứ nhất là pháp lý dự án. Nếu thủ tục pháp lý kéo dài, dự án không thể triển khai đúng tiến độ và nguồn lực đất đai không được khai thác hiệu quả.

Thứ hai là vị trí dự án. Doanh nghiệp phải lựa chọn vị trí phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường, thay vì phát triển dự án chỉ vì kỳ vọng giá đất tăng.

Thứ ba là khả năng kết nối hạ tầng và các tiện ích xã hội. Một dự án cần được kết nối thuận lợi với hệ thống giao thông, trường học, cơ sở y tế và các dịch vụ thiết yếu để tạo ra giá trị sử dụng thực sự.

Thứ tư là năng lực tài chính và phương án bán hàng. Doanh nghiệp phải có nguồn vốn phù hợp, đồng thời xây dựng phương án kinh doanh tương ứng với khả năng hấp thụ của thị trường.

Thứ năm là sức mua thực tế của người dân. Doanh nghiệp cần xác định đúng phân khúc khách hàng, đặc biệt là nhóm có nhu cầu nhà ở và khả năng chi trả phù hợp. Không thể phát triển sản phẩm vượt quá khả năng tài chính của người mua rồi kỳ vọng thị trường tự hấp thụ.

Năm yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nếu doanh nghiệp không giải quyết đồng bộ, dự án có thể bị đình trệ, nguồn lực đất đai bị lãng phí và dòng vốn không tạo ra giá trị như kỳ vọng.

Vì vậy, thước đo hiệu quả của nguồn thu từ đất không chỉ là số tiền thu được vào ngân sách, mà còn là giá trị kinh tế được tạo ra sau khi nguồn tiền đó được đưa trở lại nền kinh tế. Cần biến nguồn thu từ đất thành đầu tư có hiệu quả, thúc đẩy sản xuất và nâng cao năng lực phát triển, thay vì phụ thuộc lâu dài vào việc khai thác tài nguyên đất đai.

td4.jpg

Bên cạnh yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng, việc giữ ổn định kinh tế vĩ mô cũng là một thách thức, nhất là khi nhu cầu đầu tư và tiêu dùng gia tăng. Những yếu tố nào có thể gây sức ép lớn nhất lên lạm phát Việt Nam trong những tháng cuối năm? Việt Nam cần lưu ý điều gì trong điều hành giá cả và nguồn cung năng lượng, thưa ông?

Diễn biến lạm phát trong những tháng cuối năm sẽ phụ thuộc rất lớn vào tình hình địa chính trị thế giới. Theo tôi, có ba yếu tố cần đặc biệt lưu ý.

Thứ nhất là diễn biến quan hệ giữa Nga và Mỹ, đặc biệt liên quan đến nguồn cung dầu diesel. Theo thông tin được đề cập, lượng dầu diesel cung ứng lần lượt là 300.000 tấn trong tháng 10, 500.000 tấn trong tháng 11 và 1 triệu tấn trong tháng 12. Diễn biến này có thể tác động đến giá dầu diesel tại Mỹ, nhất là các bang Trung Tây, nơi hoạt động nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu. Giá nhiên liệu cũng là một vấn đề có ảnh hưởng đến tâm lý cử tri và chính trường Mỹ trong giai đoạn bầu cử.

Thứ hai là tình hình Trung Đông. Rủi ro không chỉ nằm ở xung đột Israel – Palestine hay diễn biến tại eo biển Hormuz, mà còn liên quan đến lực lượng Houthi ở Yemen và an ninh hàng hải tại eo biển Bab el-Mandeb, cửa ngõ phía nam của Biển Đỏ. Nếu cả hai tuyến vận chuyển dầu quan trọng qua khu vực Vịnh Ba Tư và Biển Đỏ cùng bị gián đoạn hoặc đe dọa, nguồn cung năng lượng toàn cầu sẽ chịu sức ép lớn, kéo theo nguy cơ giá dầu tăng và chi phí vận tải leo thang.

5.jpg

Thứ ba là quan hệ thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Hai nền kinh tế cần đạt được thỏa thuận về các vấn đề thương mại trong thời gian tới. Nếu đàm phán không đạt kết quả và căng thẳng tiếp tục leo thang, nguy cơ xuất hiện một vòng xoáy bất ổn mới sẽ gia tăng, gây tác động đến thương mại, chuỗi cung ứng và giá cả toàn cầu.

Ba yếu tố trên đều có thể tác động đến giá năng lượng, chi phí nhập khẩu và mặt bằng giá trong nước. Vì vậy, việc kiểm soát lạm phát cuối năm sẽ phụ thuộc đáng kể vào diễn biến địa chính trị và khả năng ứng phó với những cú sốc từ bên ngoài.

Đối với Việt Nam, cần theo dõi sát diễn biến giá năng lượng thế giới, chủ động bảo đảm nguồn cung xăng dầu và có phương án ứng phó khi các tuyến vận chuyển dầu quan trọng bị gián đoạn. Bởi nếu giá dầu tăng mạnh, áp lực không chỉ dừng ở giá nhiên liệu mà còn lan sang chi phí vận tải, sản xuất và giá hàng hóa trong nước, từ đó tác động đến lạm phát.

Điều quan trọng là phải chủ động các kịch bản điều hành giá, bảo đảm nguồn cung năng lượng và hạn chế những cú sốc chi phí đối với doanh nghiệp, người dân. Tuy nhiên, mức độ tác động đến lạm phát Việt Nam còn phụ thuộc vào diễn biến thực tế của giá dầu thế giới, nguồn cung trong nước và khả năng hấp thụ chi phí của nền kinh tế.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, ông muốn gửi thông điệp gì tới cộng đồng doanh nghiệp về năng lực tài chính và chiến lược đầu tư?

Doanh nghiệp phải nâng cao năng lực tài chính và đa dạng hóa nguồn vốn, không nên phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng nếu muốn phát triển nhanh và bền vững.

Cách đây 15 năm, khi phát biểu tại một diễn đàn của Quốc hội, tôi từng cho rằng doanh nghiệp khi đầu tư một dự án cần có vốn tự có khoảng 50%, phần còn lại có thể huy động thông qua các kênh trên thị trường tài chính như phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu. Chỉ khi xây dựng được cơ cấu vốn hợp lý, doanh nghiệp mới có nền tảng để mở rộng đầu tư và phát triển bền vững.

Thời điểm đó, nhiều doanh nghiệp và cả báo chí cho rằng quan điểm này là vô lý. Nhưng đến nay, khi áp lực tín dụng ngày càng lớn và nhu cầu vốn cho phát triển ngày càng cao, chúng ta có thể thấy rõ hơn tính cần thiết của việc chủ động nguồn vốn.

Muốn nắm bắt cơ hội tăng trưởng hai con số, doanh nghiệp không chỉ cần có khát vọng mở rộng đầu tư mà còn phải đánh giá đúng năng lực tài chính, tính toán kỹ hiệu quả dự án và chủ động huy động vốn từ nhiều kênh. Tăng trưởng phải dựa trên năng lực thực chất, chứ không thể chỉ dựa vào vốn vay và kỳ vọng thị trường.

Trân trọng cám ơn ông!

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-24 12:05
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/ts-nguyen-duc-kien-dung-dat-banh-ve-tang-truong-qua-lon-len-vai-bat-dong-san-1471940.html
Đừng bỏ lỡ
    TS Nguyễn Đức Kiên: Đừng đặt kỳ vọng, nhiệm vụ tăng trưởng quá lớn lên vai bất động sản
    POWERED BY ONECMS & INTECH