Tiêu điểm

TS Nguyễn Ngọc Tú: Nên có cơ chế tự động 'khai tử' doanh nghiệp đã rút khỏi thị trường, tránh để nghĩa vụ thuế tích tụ

Minh Anh 14/09/2026 09:01

TS Nguyễn Ngọc Tú đề xuất nghiên cứu cơ chế tự động đóng mã số thuế đối với doanh nghiệp 3 năm liên tục không còn hoạt động, không báo cáo, không kê khai thuế. Cách này được kỳ vọng vừa làm sạch dữ liệu, vừa ngăn nghĩa vụ thuế tiếp tục tích tụ.

cover.png

Gần 620.000 doanh nghiệp, tổ chức đã ngừng hoạt động nhưng vẫn chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động đang được ngành thuế tập trung xử lý trong chiến dịch “Làm sạch mã số thuế” từ đầu tháng 7. Trong đó, khoảng 292.000 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể và khoảng 325.500 đơn vị không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng vẫn còn nghĩa vụ thuế chưa hoàn tất.

Đây không chỉ là câu chuyện về những doanh nghiệp đã rời thị trường, mà còn cho thấy một nghịch lý: Doanh nghiệp có thể đã dừng kinh doanh từ nhiều năm, nhưng vẫn chưa thể “đóng lại” vòng đời pháp lý của mình.

Vì sao doanh nghiệp đã rút khỏi thị trường nhưng vẫn khó “khai tử”? Vướng mắc nằm ở doanh nghiệp hay chính sách? Và liệu có thể thiết kế một “lối ra” đơn giản hơn, vừa giúp doanh nghiệp kết thúc hoạt động minh bạch, vừa bảo đảm quyền thu thuế của Nhà nước?

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Ngọc Tú, nguyên Vụ trưởng Tổng cục Thuế, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Thuế, hiện là giảng viên Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, về vấn đề này.

tit 1 web

Hơn 600.000 doanh nghiệp đã rút khỏi thị trường nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể. Vì sao tình trạng này kéo dài nhiều năm, thưa ông?

TS Nguyễn Ngọc Tú: Hiện nay, cả nước có khoảng 1,2 triệu doanh nghiệp, trong đó mỗi năm có khoảng 200.000 doanh nghiệp mới ra đời. Tuy nhiên, 98-99% là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đặc điểm của khu vực doanh nghiệp này là phần lớn có quy mô vốn nhỏ, thậm chí nhiều doanh nghiệp thiếu vốn. Năng lực quản trị cũng còn hạn chế. Chủ doanh nghiệp nhiều trường hợp chưa được đào tạo bài bản, chưa có nhiều trải nghiệm trong quản trị và điều hành. Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng thường không có tài sản thế chấp nên rất khó tiếp cận đất đai và nguồn vốn vay.

Trong bối cảnh đó, việc bắt đầu kinh doanh đã không dễ, còn duy trì hoạt động càng khó hơn. Mấy năm nay, từ sau đại dịch Covid-19, những hậu quả kinh tế tiếp tục kéo dài, cộng với tình hình bất ổn, xung đột ở nhiều nơi trên thế giới, kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng gặp nhiều khó khăn. Môi trường kinh doanh vì thế cũng trở nên khốc liệt hơn.

Doanh nghiệp mới gia nhập thị trường gặp khó khăn thì tất yếu sẽ có một bộ phận thất bại và phải rút khỏi thị trường. Những năm vừa qua, nếu mỗi năm có khoảng 200.000 doanh nghiệp mới ra đời thì số doanh nghiệp rút khỏi thị trường cũng khoảng 100.000-150.000, tương đương 60-70% số doanh nghiệp mới.

Như vậy, dòng doanh nghiệp gia nhập và rút khỏi thị trường diễn ra liên tục. Qua nhiều năm, số doanh nghiệp rời khỏi thị trường nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể đã cộng dồn lên rất lớn. Hiện nay có trên 600.000 doanh nghiệp không còn hoạt động kinh doanh nhưng vẫn chưa hoàn tất thủ tục giải thể, chưa đóng mã số thuế.

Đáng chú ý, có những doanh nghiệp không còn tồn tại tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Khi mới thành lập, doanh nghiệp được cấp phép và đặt trụ sở tại một địa chỉ nào đó, nhưng sau một thời gian hoạt động, doanh nghiệp rời đi, cơ quan chức năng kiểm tra thì không còn doanh nghiệp ở đó, thậm chí không biết chủ doanh nghiệp ở đâu, trụ sở thực tế ở đâu.

Điều này cho thấy một thực tế là doanh nghiệp rút khỏi thị trường nhưng chưa đóng, chưa giải thể, chưa chấm dứt mã số thuế vẫn còn rất lớn.

tit 2 web

Theo ông, vì sao nhiều doanh nghiệp dù biết mình phải thực hiện nghĩa vụ thuế, phải làm thủ tục giải thể nhưng vẫn lựa chọn để doanh nghiệp “treo” nhiều năm?

Trước hết, một bộ phận chủ doanh nghiệp chưa am hiểu đầy đủ về pháp luật. Họ nghĩ rằng khi doanh nghiệp không còn hoạt động, không có doanh thu thì có thể cứ để doanh nghiệp đó mà không cần làm thêm thủ tục.

Nhưng thực tế không phải như vậy. Khi đã thành lập doanh nghiệp, nếu không còn hoạt động thì doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền. Nếu doanh nghiệp đăng ký hoạt động ở một nơi nhưng chuyển trụ sở sang nơi khác thì vẫn phải thực hiện thủ tục báo cáo. Trước đây, doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan đăng ký kinh doanh là Sở Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay là Sở Tài chính, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan với cơ quan thuế.

quote 1 web

Ngay cả khi doanh nghiệp ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động, không có doanh thu thì cũng không có nghĩa là mọi nghĩa vụ thuế tự động chấm dứt. Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện việc kê khai theo quy định.

Bên cạnh đó, cũng có những doanh nghiệp biết quy định nhưng chủ quan. Họ nghĩ rằng doanh nghiệp chỉ còn nợ một vài triệu đồng hoặc vài chục triệu đồng thì không đáng kể, nên không tiếp tục kê khai, không làm thủ tục với cơ quan quản lý và cứ để doanh nghiệp tồn tại trên hệ thống.

Nhưng vấn đề đáng nói hơn là những doanh nghiệp biết phải giải thể nhưng lại gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục. Phần lớn doanh nghiệp biết mình phải đăng ký thuế, phải hoàn tất thủ tục giải thể, nhưng khi thực hiện thì thấy thủ tục quá nhiều, quá phức tạp, thậm chí phức tạp hơn nhiều so với thủ tục thành lập doanh nghiệp.

Đây là một điểm cần phải suy nghĩ.

Như vậy, theo ông đây không đơn thuần chỉ là vấn đề từ phía doanh nghiệp, mà còn nằm ở những bất cập trong chính sách thuế và quy định pháp luật hiện nay?

Đúng vậy, phải nhìn cả hai phía. Có nguyên nhân chủ quan từ doanh nghiệp, nhưng cũng có nguyên nhân khách quan từ thể chế.

Thể chế ở đây chính là cách chúng ta thiết kế chính sách. Ví dụ, chính sách lệ phí môn bài mà vẫn áp dụng đối với một doanh nghiệp thực tế không còn hoạt động, không có doanh thu thì cần phải xem xét lại mức độ phù hợp. Một doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh, không tạo ra doanh thu mà nghĩa vụ vẫn tiếp tục phát sinh qua từng năm thì càng để lâu, khoản phải nộp càng lớn.

quote 2 web

Thứ hai, yêu cầu doanh nghiệp phải kê khai thuế khi không còn doanh thu, đã ngừng hoạt động, nhưng nếu không kê khai lại tiếp tục phát sinh tiền phạt. Những khoản này tiếp tục treo trên hệ thống.

Doanh nghiệp không kinh doanh nữa nhưng vẫn tồn tại về mặt hồ sơ và mã số thuế. Nếu doanh nghiệp chưa lên làm thủ tục phá sản hoặc giải thể thì về mặt thể chế vẫn còn khoảng trống cần phải xử lý.

Thứ ba, quy định pháp lý hiện nay chưa có một quy trình thật rõ ràng, thống nhất để doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Doanh nghiệp muốn giải thể hoặc xin đóng mã số thuế phải thực hiện nhiều thủ tục, trong khi các quy định nằm rải rác ở nhiều văn bản. Điều đó làm cho quá trình trở nên phức tạp.

tit 3 web

Ông có thể nói rõ hơn về gánh nặng thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt khi ngừng hoạt động nhiều năm nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể?

Đây chính là một trong những vấn đề khiến doanh nghiệp càng để lâu càng khó giải thể. Thủ tục giải thể hiện nay chưa thật sự rõ ràng. Các quy định liên quan nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, mỗi văn bản quy định một phần, trong khi chưa có một quy trình thống nhất, rõ ràng và thuận tiện để doanh nghiệp thực hiện việc rút khỏi thị trường.

Đặc biệt, vấn đề nghĩa vụ thuế có liên quan trực tiếp đến quá trình giải thể. Ví dụ, theo chính sách lệ phí môn bài, doanh nghiệp dù không hoạt động nhưng vẫn tồn tại về mặt hồ sơ, sổ sách thì hàng năm vẫn phải nộp lệ phí môn bài. Trước đây gọi là thuế môn bài, sau này gọi là lệ phí môn bài, mỗi năm nộp một lần, mức từ 1-3 triệu đồng.

quote 3 web
quote 3 web

Một doanh nghiệp đã dừng hoạt động từ năm 2020 đến năm 2026 nhưng không làm thủ tục thì nếu tính mức 3 triệu đồng mỗi năm, riêng lệ phí môn bài đã là 18 triệu đồng.

Nhưng chưa dừng ở đó. Khoản tiền này còn có thể phát sinh tiền chậm nộp. Trong thời gian 6 năm, mỗi ngày chậm nộp lại phát sinh tiền chậm nộp theo quy định, khiến nghĩa vụ tiếp tục lũy kế.

Thứ ba, trong thời gian doanh nghiệp ngừng hoạt động, nếu không thực hiện kê khai thuế theo quy định thì còn phát sinh tiền phạt do không kê khai. Nếu tính mỗi quý một lần thì 6 năm đã là 24 lần kê khai.

Như vậy, một doanh nghiệp thực tế không hoạt động trong 6 năm, không phát sinh một đồng doanh thu nào, không phát sinh hoạt động kinh doanh hay thu nhập nào liên quan đến nghĩa vụ thuế, nhưng các khoản lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt hành chính do không kê khai vẫn có thể cộng dồn lên vài chục triệu đồng.

Nếu doanh nghiệp để tình trạng này kéo dài 10 năm thì số tiền phải nộp có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Đây là điểm rất đáng lưu ý.

tit 4 web

Hàng trăm nghìn doanh nghiệp treo trên hệ thống có thể tác động thế nào đến dữ liệu doanh nghiệp, quyền kinh doanh và niềm tin của người dân, cũng như môi trường kinh doanh nói chung?

Tác động đầu tiên là làm cho dữ liệu doanh nghiệp bị loãng. Một hệ thống dữ liệu doanh nghiệp muốn có giá trị thì phải phản ánh tương đối chính xác doanh nghiệp nào đang hoạt động, doanh nghiệp nào đã dừng, doanh nghiệp nào đã giải thể, doanh nghiệp nào còn mã số thuế và doanh nghiệp nào có khả năng xuất hóa đơn.

Nhưng nếu có hàng trăm nghìn doanh nghiệp đã không còn hoạt động trong nhiều năm mà vẫn tồn tại trên hệ thống thì các doanh nghiệp đang hoạt động thực sự sẽ rất khó xác định đâu là doanh nghiệp đang kinh doanh bình thường. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp đang làm ăn chính thống, việc không xác định được tình trạng thực tế của một doanh nghiệp đối tác có thể tạo ra rủi ro.

Ví dụ, doanh nghiệp mua hàng, giao dịch hoặc nhận hóa đơn của một đơn vị mà trên thực tế đã giải thể hoặc không còn hoạt động. Nếu doanh nghiệp giao dịch không biết được tình trạng thực tế của đối tác thì sau này có thể phát sinh hệ lụy, thậm chí bị truy thu thuế hoặc bị phạt.

Vì vậy, nếu doanh nghiệp đã rút khỏi thị trường nhưng không được cập nhật, không được chấm dứt kịp thời trên hệ thống thì không chỉ ảnh hưởng đến cơ quan quản lý mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng.

Nó tạo ra một bức tranh mà bên cạnh “mảng sáng” của những doanh nghiệp đang hoạt động chính thức lại tồn tại một “mảng tối” gồm những doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng vẫn hiện diện trên hệ thống.

tit 5 web

Theo ông, cần thiết kế một cơ chế như thế nào để giải thể nhanh đối với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động lâu, không còn doanh thu, lao động, tài sản và không có dấu hiệu gian lận?

Phải cải cách thể chế, sửa đổi các luật có liên quan. Trước mắt, Chính phủ nên ban hành một quy trình giải thể rõ ràng để doanh nghiệp rút khỏi thị trường theo hướng thật đơn giản. Thành lập doanh nghiệp như thế nào thì khi giải thể cũng phải thuận tiện tương tự.

Hiện nay, thủ tục thành lập doanh nghiệp tương đối đơn giản. Một bộ hồ sơ có thông tin về chủ doanh nghiệp, người đại diện, vốn điều lệ, giám đốc, tài khoản... thì khoảng 2-3 ngày có thể hoàn tất việc thành lập.

quote 4 web
quote 4 web

Vậy thì khi doanh nghiệp không còn hoạt động, thủ tục rút khỏi thị trường cũng cần được thiết kế theo hướng đơn giản, rõ ràng và nhanh chóng. Thậm chí, cơ quan có thẩm quyền có thể nghiên cứu cơ chế cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục “khai tử” trước, còn các khoản nợ thuế hoặc nghĩa vụ tài chính nếu có thì tiếp tục được xử lý theo quy định pháp luật.

Thứ hai, cần nghiên cứu việc miễn hoặc giảm các khoản tiền phạt, tiền chậm nộp đối với những doanh nghiệp đủ điều kiện, đặc biệt là những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế trong thời gian dài, không có doanh thu và không có dấu hiệu vi phạm.

Về lâu dài, có thể nghiên cứu cơ chế tự động đóng mã số thuế đối với những doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định không còn hoạt động.

Ví dụ, doanh nghiệp 3 năm liên tục không kinh doanh, không còn hoạt động, không báo cáo, không kê khai thuế thì có thể nghiên cứu cơ chế tự động đóng mã số thuế.

Đối với doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, nếu cơ quan quản lý xác định trong 3 năm liên tục doanh nghiệp không còn hoạt động thì cũng có thể nghiên cứu cơ chế xử lý tương tự.

Làm như vậy có ba lợi ích: Thứ nhất là làm sạch hệ thống dữ liệu; thứ hai là bảo vệ chính doanh nghiệp đó khỏi việc nghĩa vụ tiếp tục phát sinh một cách kéo dài; thứ ba là giúp cơ quan quản lý có cơ sở để khoanh vùng, phân loại và xử lý những trường hợp còn nghĩa vụ tài chính thực tế.

Tất nhiên, những cơ chế này phải có quy định pháp lý rõ ràng và phải bảo đảm khả năng xử lý, khôi phục đối với những trường hợp cần thiết.

tit-6-web.jpg

Với những doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng vẫn còn nợ thuế, theo ông nên xử lý thế nào để vừa thu đúng nghĩa vụ, vừa tránh kéo dài thủ tục hành chính?

Thực tế, số thuế nợ của nhiều đơn vị này rất nhỏ. Muốn truy thu thì trước hết phải xác định được chủ doanh nghiệp và trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với nghĩa vụ thuế.

Ví dụ, doanh nghiệp đã giải thể nhưng còn nợ một khoản tiền thuế thì giám đốc hoặc chủ doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định. Nếu không thực hiện thì pháp luật hiện nay đã có nhiều biện pháp để xử lý như đình chỉ kinh doanh, cấm xuất cảnh, trích tiền từ tài khoản ngân hàng và các biện pháp khác. Pháp luật thuế đã có những quy định tương đối đầy đủ về vấn đề này.

quote 5 web
quote 5 web

Tuy nhiên, trong quá trình xử lý cũng cần tính đến tính hiệu quả và chi phí quản lý. Chẳng hạn, với những doanh nghiệp chỉ nợ khoảng 1 triệu đồng trở xuống, số tiền này thực tế không có nhiều ý nghĩa đối với thu ngân sách. Nếu vẫn phải thực hiện một quy trình quản lý, truy thu, xử lý kéo dài thì chi phí quản lý có khi còn lớn hơn số tiền thu được.

Vì vậy, tôi cho rằng cần nghiên cứu một ngưỡng xử lý phù hợp. Đối với doanh nghiệp nợ thuế dưới 1 triệu đồng, có thể nghiên cứu cơ chế miễn hoặc xử lý dứt điểm khoản nợ, đồng thời miễn các khoản phạt liên quan trong những trường hợp đủ điều kiện.

Mục tiêu là làm sao để thủ tục đóng cửa, giải thể doanh nghiệp được tiến hành nhanh hơn, giảm bớt thủ tục hành chính, đồng thời làm cho hệ thống dữ liệu doanh nghiệp được hoàn tất và minh bạch hơn.

Đây không chỉ là câu chuyện thu được thêm bao nhiêu tiền thuế, mà còn là câu chuyện làm sao để hệ thống quản lý vận hành hiệu quả, dữ liệu phản ánh đúng thực tế và môi trường kinh doanh trở nên rõ ràng hơn.

Nếu xử lý được nhóm doanh nghiệp này một cách hợp lý thì vừa giảm được gánh nặng cho cơ quan quản lý, vừa tạo điều kiện để những người đã thất bại trong kinh doanh có thể khép lại hoạt động cũ một cách minh bạch, thay vì để doanh nghiệp “treo” nhiều năm trên hệ thống.

Trân trọng cám ơn ông!

Theo Kiến thức Đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/ts-nguyen-ngoc-tu-nen-co-che-tu-dong-khai-tu-doanh-nghiep-da-rut-khoi-thi-truong-tranh-de-nghia-vu-thue-tich-tu-1466223.html
Đừng bỏ lỡ
    TS Nguyễn Ngọc Tú: Nên có cơ chế tự động 'khai tử' doanh nghiệp đã rút khỏi thị trường, tránh để nghĩa vụ thuế tích tụ
    POWERED BY ONECMS & INTECH