Chuyên gia thuế: Không nên đánh đồng doanh nghiệp cố tình trốn thuế với ngừng hoạt động do thiếu hiểu biết
Việc xử lý mã số thuế đang đặt ra yêu cầu phân loại rõ doanh nghiệp cố tình trốn thuế với trường hợp ngừng hoạt động do thiếu hiểu biết.
Việc doanh nghiệp rời khỏi thị trường và chấm dứt mã số thuế là quá trình vận hành bình thường. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ lâu vẫn tồn tại trên hệ thống, hồ sơ chưa được xử lý dứt điểm, thậm chí có người bất ngờ phát hiện mình đứng tên đại diện cho doanh nghiệp mà không hề hay biết.
Những bất cập này ảnh hưởng đến chất lượng dữ liệu, chi phí tuân thủ và môi trường kinh doanh. Trước thực trạng đó, ngành thuế đang triển khai chiến dịch làm sạch mã số thuế, xử lý tồn đọng và tháo gỡ các điểm nghẽn cho hoạt động kinh doanh.
Gần 95.000 mã số thuế được xử lý trong 8 tháng
Đánh giá ý nghĩa của chiến dịch dưới góc độ môi trường kinh doanh, bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, cho rằng làm sạch mã số thuế không đơn thuần là công việc kỹ thuật giữa cơ quan thuế với doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03), hoặc doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký (trạng thái 06).

Theo bà Hải, bản chất của chiến dịch là trả lại môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh và đáng tin cậy cho cộng đồng doanh nghiệp, hộ cá nhân kinh doanh đang thực sự hoạt động.
Khi gần một nửa số doanh nghiệp và hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động hoặc rời thị trường nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế và vẫn nằm trong cơ sở dữ liệu, doanh nghiệp làm ăn chân chính luôn đối mặt với rủi ro từ đối tác. Một đối tác có thể đột ngột trở thành doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh (doanh nghiệp 06), khiến họ phải giải trình với cơ quan thuế, đồng thời đối mặt nguy cơ không được khấu trừ thuế hoặc tính chi phí hợp lý đối với số thuế và hóa đơn đã sử dụng.
Vì vậy, theo bà Hải, làm sạch mã số thuế không chỉ dọn dẹp dữ liệu, tạo sự an tâm cho cộng đồng doanh nghiệp đang hoạt động mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh, góp phần hình thành thói quen tuân thủ pháp luật khi rời bỏ thị trường.
Trong 8 tháng năm 2026, chiến dịch đã đạt những kết quả cụ thể. Theo số liệu được công bố, ngành thuế cấp mới mã số thuế cho 167.637 doanh nghiệp, tổ chức; đồng thời hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho gần 95.000 doanh nghiệp, tổ chức, tăng 9% so với cùng kỳ.
Trong gần 95.000 trường hợp này, hơn 23.000 trường hợp phát sinh đề nghị trong năm 2026 và gần 72.000 trường hợp tồn đọng từ năm 2025 trở về trước được xử lý. Hệ thống cũng ghi nhận hơn 3.000 doanh nghiệp được khôi phục mã số thuế, tạo điều kiện để trở lại thị trường.
Phân tích những con số này, bà Lê Thị Duyên Hải cho rằng phần lớn trong gần 95.000 mã số thuế được xử lý đóng trong tháng 8 là những doanh nghiệp thực tế đã ở trạng thái 03 (ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế). Dù đã gửi thông báo và hồ sơ tới cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, vì nhiều lý do, cơ quan thuế trước đây chưa hoàn tất việc kiểm tra, xác nhận nghĩa vụ thuế để chuyển sang trạng thái 01 (chấm dứt hiệu lực mã số thuế).
Do đó, việc xử lý 72.000 trường hợp tồn đọng từ hai năm trở về trước là tín hiệu tích cực, cho thấy ngành thuế tăng cường trách nhiệm, giải quyết các thủ tục kéo dài và giúp doanh nghiệp giảm lo ngại về rủi ro pháp lý.
Đối với hơn 3.000 doanh nghiệp được khôi phục mã số thuế, bà Hải cũng đánh giá đây là tín hiệu tích cực. Trong số các doanh nghiệp đã "ngủ" lâu trên thị trường, có những đơn vị quyết định quay trở lại kinh doanh, hoặc khôi phục mã số thuế để đảm bảo quyền lợi liên quan đến việc hoãn xuất cảnh của người đại diện pháp luật hay chủ sở hữu hưởng lợi, từ đó xem xét tiếp tục kinh doanh hoặc hoàn thành nghĩa vụ thuế để chính thức chấm dứt hoạt động.
Theo bà Hải, những kết quả này thể hiện nỗ lực của cả cơ quan thuế và doanh nghiệp trong việc đưa trạng thái hoạt động về đúng thực tế, tạo thói quen tuân thủ khi gia nhập cũng như rời bỏ thị trường. Bà tin tưởng các con số này sẽ còn tăng nhanh trong những tháng cuối năm 2026 và năm 2027 khi các giải pháp và ý thức tuân thủ của doanh nghiệp được thúc đẩy, giúp môi trường kinh doanh từng bước được chuẩn hóa.
Cần phân loại doanh nghiệp để xử lý đúng bản chất
Trong quá trình làm sạch mã số thuế, doanh nghiệp và hộ kinh doanh cũng phản ánh vướng mắc khi xử lý nghĩa vụ tài chính cũ, đặc biệt là tiền chậm nộp, tiền phạt hoặc hồ sơ tồn đọng kéo dài.
Về ranh giới giữa xử lý đúng nghĩa vụ và tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp đóng hồ sơ, bà Hải cho biết cơ quan thuế đã phân loại kho mã số thuế theo tình trạng, nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng. Tuy nhiên, chính sách hiện nay chưa có điểm đặc thù, khiến những doanh nghiệp mới thành lập nhưng chưa hoạt động, chưa xuất hóa đơn và chưa phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế lại bị xử lý giống doanh nghiệp đang kinh doanh.

Việc xử phạt các doanh nghiệp này vì chậm nộp hồ sơ khai thuế, dù doanh thu và nghĩa vụ thuế đều bằng 0, hoặc thu thuế môn bài cho khoảng thời gian họ đã rời thị trường đang tạo cản trở đối với những đơn vị muốn đóng mã số thuế. Hội Tư vấn Thuế Việt Nam đã kiến nghị thay đổi cách thức xử phạt đối với nhóm này, nhằm bảo đảm chi phí xử lý đúng bản chất và giảm gánh nặng tài chính khi doanh nghiệp muốn rời thị trường chính thức.
Tại cuộc họp báo về chiến dịch làm sạch mã số thuế, ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế, cho biết bức tranh kinh tế khởi sắc, việc thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và tháo gỡ điểm nghẽn trong các dự án bất động sản đã dẫn đến số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng cao.
Ông Mai Sơn nhấn mạnh chiến dịch hướng tới làm sạch dữ liệu đối với các đơn vị xin rời thị trường và doanh nghiệp bỏ địa chỉ không khai báo từ năm 2025 trở về trước, nhằm đạt tiêu chuẩn "đúng - đủ - sạch - sống" theo yêu cầu của Cơ sở dữ liệu quốc gia. Đồng thời, ngành thuế kỳ vọng các chủ thể nộp thuế ở những trạng thái này có cơ hội quay trở lại thị trường trong tương lai.
Liên quan đến chính sách đối với doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm muốn xử lý dứt điểm để trở lại kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp mới, bà Hải nhấn mạnh việc phân nhóm đối tượng là rất quan trọng.
Với trường hợp cố tình rời thị trường không khai báo để trốn thuế, sau đó tiếp tục thành lập doanh nghiệp khác và bỏ địa chỉ kinh doanh, đây là hành vi vi phạm pháp luật và phải xử lý nghiêm. Ngược lại, với những trường hợp vi phạm do thiếu hiểu biết, cần có chính sách phân loại để xử lý nhanh dữ liệu lịch sử.
Đặc biệt, theo bà Hải, cơ quan thuế cần tuyên bố rõ những trường hợp sau khi giải quyết xong trách nhiệm quá khứ sẽ không bị ràng buộc bởi sai phạm cũ, tạo niềm tin để họ đường đường chính chính thành lập doanh nghiệp mới thay vì né tránh hoặc nhờ người khác đứng tên hộ.
Một vấn đề khác được nêu ra là tình trạng người dân bất ngờ phát hiện mình đứng tên đại diện cho một doanh nghiệp hoàn toàn xa lạ. Theo bà Hải, trước đây, khi các cơ quan nhà nước chưa có đủ cơ sở dữ liệu liên thông để xác minh danh tính, kẻ xấu đã lợi dụng giấy tờ cá nhân bị mất hoặc thông tin căn cước công dân bị lộ lọt để đăng ký thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh giả mạo.
Do quy trình xác minh và xử lý giả mạo theo cơ chế cũ phức tạp, tốn thời gian, bà Hải đề xuất cho phép cá nhân có cam kết và tạm thời gác trách nhiệm liên đới với doanh nghiệp giả mạo trong thời gian cơ quan chức năng xác minh, giúp người dân yên tâm sinh sống, làm việc và xuất cảnh.
Về lâu dài, bà Hải cho rằng việc giả mạo danh tính sẽ được ngăn chặn hiệu quả nhờ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được chia sẻ cho các bộ, ngành, cùng việc áp dụng công nghệ xác thực khuôn mặt (Face ID) ở bước đăng ký sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế. Với các trường hợp dữ liệu cũ xuất phát từ hồ sơ giấy, cần sớm có cơ chế chính thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân khi phản ánh.
Để quá trình làm sạch mã số thuế thông thoáng và hạn chế rủi ro cho người nộp thuế, chủ doanh nghiệp cũng như cán bộ thuế, bà Hải cho rằng chuẩn hóa quy trình hướng dẫn đóng vai trò then chốt.
Dù cơ quan thuế đã có tài liệu hướng dẫn chung, việc ban hành hướng dẫn chi tiết cho từng nhóm trường hợp là cần thiết để thống nhất cách xử lý. Nếu thiếu hướng dẫn, cán bộ thuế có thể lo ngại rủi ro trách nhiệm và yêu cầu người nộp thuế bổ sung nhiều hồ sơ không cần thiết, như sao kê tài khoản ngân hàng trong thời gian dài, qua đó làm tăng phiền hà và chi phí tuân thủ.
Để chiến dịch làm sạch mã số thuế trở thành một bước cải cách lâu dài, bà Hải cho rằng cần nhìn rộng hơn về toàn bộ vòng đời của doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Quản lý, hỗ trợ từ khi gia nhập thị trường, trong quá trình hoạt động đến khi rút lui không phải nhiệm vụ riêng của ngành thuế mà là trách nhiệm chung của cơ quan đăng ký kinh doanh, quản lý thị trường, các bộ, ngành kinh tế và chính quyền địa phương.
Về phía doanh nghiệp, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động phát hiện và phản ánh các hành vi không tuân thủ là cách bảo vệ quyền lợi hợp pháp, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng và lành mạnh.
Có thể thấy, mã số thuế không chỉ là dữ liệu quản lý trên hệ thống mà còn gắn với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, việc làm của người lao động và dòng vốn đầu tư. Vì vậy, giá trị của chiến dịch không chỉ nằm ở số mã số thuế được đóng, mà còn ở việc tạo cơ sở dữ liệu chính xác, minh bạch hóa môi trường đầu tư, tháo gỡ các trường hợp sai lệch và mở ra con đường rõ ràng để các chủ thể kinh doanh có thiện chí gia nhập, rời khỏi hoặc trở lại thị trường thuận lợi.