TS Nguyễn Xuân Thành: Việt Nam không thể tăng trưởng hai con số nếu thiếu điện

Khúc Văn • 16/10/2026 - 16:28

Để duy trì tăng trưởng hai con số trong dài hạn, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư vào hạ tầng năng lượng, viễn thông, trung tâm dữ liệu, đồng thời thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để nâng năng suất thay vì chỉ mở rộng quy mô đầu tư.

Tại Hội thảo kinh tế vĩ mô năm 2026 với chủ đề “Việt Nam và giải bài toán tăng trưởng hai con số trong năm 2026”, do Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM tổ chức, các chuyên gia cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao chỉ có thể duy trì bền vững khi đi cùng cải thiện năng suất, nâng cao năng lực nội sinh và tăng khả năng lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước.

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Theo Bộ Tài chính, GDP quý III/2026 ước tăng 9,95%, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%. Cả nước có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng GRDP hai con số trong 9 tháng. Quảng Ninh, Hải Phòng và Bắc Ninh thuộc nhóm dẫn đầu, trong khi GRDP TP.HCM tăng 9,06% và Hà Nội tăng 8,85%.

Hải Phòng đạt mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Ảnh minh họa: Hồng Phong.
TS Nguyễn Xuân Thành: Việt Nam không thể tăng trưởng hai con số nếu thiếu điện.

Ưu tiên hạ tầng thiết yếu, lấy AI làm động lực nâng năng suất

TS Nguyễn Xuân Thành, chuyên gia kinh tế, giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần thay đổi cách phân bổ nguồn lực để tạo thêm động lực tăng trưởng. Theo ông, dư địa vay nợ của nền kinh tế vẫn còn khi các chỉ số nợ công, nợ nước ngoài tổng thể và nợ nước ngoài thương mại đều ở mức thấp. Vấn đề quan trọng là lựa chọn đúng lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư.

Ông Thành đề xuất tập trung nguồn lực vào ba nhóm hạ tầng gồm năng lượng, viễn thông và trung tâm dữ liệu. Trong đó, năng lượng là điểm nghẽn cấp bách nhất khi nhiều dự án nguồn điện triển khai chậm, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.

Theo chuyên gia này, Việt Nam cũng cần đẩy nhanh phát triển mạng viễn thông thế hệ mới và năng lực hạ tầng dữ liệu. Malaysia và Thái Lan hiện có những bước tiến trước Việt Nam trong các lĩnh vực như năng lượng sạch, viễn thông thế hệ mới và thu hút đầu tư vào trung tâm dữ liệu. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp nhận các công nghệ mới.

Với AI, ông Thành cho rằng Việt Nam không nên chạy đua trực tiếp với Mỹ và Trung Quốc trong phát triển các mô hình nền tảng tiên tiến, vốn đòi hỏi nguồn vốn lớn và năng lực tính toán mạnh. Thay vào đó, Việt Nam nên tập trung đưa AI vào các hoạt động thực tế, tận dụng tỷ lệ người dân và doanh nghiệp sử dụng công nghệ này tương đối cao.

Rào cản lớn cần giải quyết là “Trust AI”, tức niềm tin vào độ chính xác, an toàn, bảo mật và chi phí của các giải pháp AI. Theo ông Thành, doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có thể tham gia thử nghiệm, đánh giá và cung cấp các giải pháp AI đáng tin cậy cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).

“Doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có thể đảm nhận việc thử nghiệm, đánh giá và cung cấp các giải pháp AI đáng tin cậy cho SME. Khi giải quyết được bài toán niềm tin, AI có thể trở thành động lực nâng năng suất và hỗ trợ khu vực tư nhân tăng trưởng”, ông Thành nói.

Cùng nhấn mạnh vai trò của công nghệ đối với năng suất, GS.TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, cho rằng sự thay đổi nhanh chóng của kinh tế và công nghệ đang khiến tốc độ tăng trưởng giữa các ngành, doanh nghiệp ngày càng phân hóa theo mô hình chữ K.

Theo mô hình này, nhóm doanh nghiệp sớm thích ứng với công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao năng suất có cơ hội tăng trưởng nhanh. Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thay đổi sẽ phải đối mặt với sức ép ngày càng lớn.

Ông Trung nhận định Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng nguồn lực sang nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp tái cấu trúc hoạt động sản xuất, quản trị và kinh doanh để tận dụng công nghệ mới, đặc biệt là AI.

Theo ông, AI cần được nhìn nhận như một công cụ nâng năng suất, thay vì chỉ là công nghệ thay thế lao động. Hiệu quả ứng dụng phụ thuộc nhiều vào năng lực người sử dụng, chất lượng dữ liệu và khả năng tích hợp công nghệ vào quy trình hoạt động thực tế.

Quá trình chuyển đổi cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Người lao động và doanh nghiệp phải liên tục cập nhật kiến thức, cải thiện kỹ năng số để thích ứng với môi trường kinh doanh mới.

“Nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, chuyển đổi số và AI cần được gắn trực tiếp với năng suất, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế, thay vì chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ”, GS.TS Nguyễn Đức Trung nhấn mạnh.

Tăng trưởng hai con số phải đi cùng năng lực nội sinh

Theo GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Kinh tế Quốc dân, để thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần duy trì tăng trưởng từ 10% mỗi năm trong nhiều năm liên tiếp. Riêng năm 2026, mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu GDP quý IV phải tăng khoảng 12,5%.

Tuy nhiên, theo đuổi tốc độ tăng trưởng cao cũng tạo áp lực đối với việc điều hành chính sách vĩ mô. Mục tiêu lạm phát khoảng 4,5% cho thấy dư địa kiểm soát giá cả không còn quá rộng, trong khi lạm phát 9 tháng đã lên 4,52%.

Bên cạnh đó, chi phí vốn của nền kinh tế có thể chịu sức ép từ chính sách tiền tệ thắt chặt của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), biến động tỷ giá và chi phí logistics, bao gồm vận tải, kho bãi và phân phối.

Theo ông Đạt, để tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ tích lũy vốn sang tích lũy năng lực nội sinh, tức nâng cao năng lực tự thân của doanh nghiệp và nền kinh tế trong nước. Khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) cần trở thành những động lực quan trọng.

TFP phản ánh phần tăng trưởng đến từ các yếu tố như công nghệ, chất lượng quản trị và lao động, thay vì chỉ dựa vào việc bổ sung vốn hoặc tăng số lượng lao động.

Ông Đạt đề xuất mô hình 3I gồm đầu tư (Investment), tạo hiệu ứng lan tỏa (Infusion) và thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Innovation), qua đó từng bước nâng cao năng suất lao động.

Đối với AI, ông cho rằng cần nhìn nhận quá trình ứng dụng theo đường cong chữ S. Ở giai đoạn đầu, doanh nghiệp phải đầu tư đáng kể nhưng hiệu quả chưa xuất hiện ngay; năng suất có thể tăng mạnh hơn trong giai đoạn 2027-2028 trước khi dần chững lại.

Vì vậy, thay vì chỉ tập trung vào phát triển hoặc “sản xuất AI”, Việt Nam cần hướng đến “tăng trưởng nhờ AI”, tức đưa công nghệ vào hoạt động thực tế để nâng năng suất lao động và tạo việc làm bền vững.

Một vấn đề khác được ông Đạt lưu ý là không thể đánh giá chất lượng tăng trưởng chỉ thông qua GDP, mà còn phải xem xét mức độ lan tỏa đến khu vực kinh tế trong nước.

Theo ông, dù GDP tăng trên 9%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu và chuyển phần lớn lợi nhuận ra nước ngoài. Vì vậy, tổng thu nhập quốc dân (GNI), phản ánh thu nhập mà người dân và doanh nghiệp trong nước thực nhận, có thể thấp hơn đáng kể so với GDP.

Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chịu nhiều sức ép. Chi phí đầu vào tăng 27% nhưng doanh thu chỉ tăng 21%, sức mua suy giảm và 75% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận vốn.

GS.TS Lê Quốc Hội, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Tổng biên tập Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, cũng cảnh báo mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030 có thể tạo áp lực khiến các địa phương chạy theo kết quả ngắn hạn.

Những biểu hiện có thể xuất hiện gồm thúc đẩy giải ngân đầu tư công vượt ngưỡng hiệu quả hoặc cạnh tranh ưu đãi cục bộ để thu hút dự án về địa phương. Nếu chỉ tập trung vào tốc độ tăng trưởng trước mắt, các nền tảng dài hạn như giáo dục, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế có nguy cơ bị xem nhẹ.

Theo ông Hội, Việt Nam cần chuyển từ mô hình gia công hàng hóa, vốn phụ thuộc nhiều vào chu kỳ kinh tế thế giới, sang mô hình tăng trưởng dựa trên ứng dụng AI và đổi mới công nghệ.

Về điều hành kinh tế, chính sách tài khóa, bao gồm thu chi ngân sách, thuế và đầu tư công, cần giữ vai trò chủ lực. Chính sách tiền tệ thông qua lãi suất, tín dụng và tỷ giá sẽ đóng vai trò bổ trợ, tập trung kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và giám sát rủi ro liên thông giữa ngân hàng, bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp sau giai đoạn tín dụng mở rộng.

Đối với thu hút FDI, trong 9 tháng năm 2026, vốn đăng ký vào Việt Nam đạt hơn 50 tỷ USD, trong khi vốn thực hiện đạt khoảng 21 tỷ USD. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thách thức không chỉ nằm ở việc thu hút thêm vốn đầu tư mà còn ở khả năng chuyển giao công nghệ, tạo hiệu ứng lan tỏa sang doanh nghiệp nội địa và phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Đây được xem là điều kiện quan trọng để Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa vào mở rộng vốn và lao động sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-15 15:59
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/ts-nguyen-xuan-thanh-viet-nam-khong-the-tang-truong-hai-con-so-neu-thieu-dien-1470747.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    TS Nguyễn Xuân Thành: Việt Nam không thể tăng trưởng hai con số nếu thiếu điện
    POWERED BY ONECMS & INTECH