Vì sao Intel 20 năm trước chọn xây nhà máy tại Việt Nam thay vì Thái Lan, Trung Quốc? Chuyên gia Phạm Chi Lan hé lộ lý do bất ngờ
Intel chọn Việt Nam làm nhà máy từ năm 2006, đến nay tạo hơn 6.000 việc làm, đóng góp 90 tỷ USD xuất khẩu. Bà Phạm Chi Lan lý giải quyết định này.

Hơn hai thập kỷ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đang chứng kiến bước chuyển từ một điểm đến gia công giá rẻ lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Câu chuyện Intel chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất, với kim ngạch xuất khẩu lũy kế khoảng 90 tỷ USD, là một minh chứng cho sự thay đổi này.
Dưới góc nhìn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan tại talkshow "90 tỷ USD xuất khẩu: Vì sao Intel chọn Việt Nam làm cứ điểm?", thành công của Intel cùng làn sóng FDI công nghệ cao thế hệ mới mở ra cơ hội để Việt Nam chuyển từ “bán sức lao động” sang “bán trí tuệ”.
Intel và cột mốc 90 tỷ USD tại Việt Nam
Nhìn lại năm 2006, chuyên gia Phạm Chi Lan nhắc đến quyết định Intel rót vốn vào Việt Nam vào tháng 5/2006. Khi đó, Việt Nam mới hoàn tất đàm phán song phương với Mỹ và đến tháng 9/2006, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mới chính thức công nhận Việt Nam là thành viên.
Việc Intel lựa chọn Việt Nam trước khi nước ta chính thức gia nhập WTO khoảng 6 tháng cho thấy niềm tin lớn của tập đoàn. Trước Intel, một số tập đoàn Nhật Bản như Nidec tại Khu công nghiệp Thăng Long đã có mặt, nhưng chủ yếu trong lĩnh vực điện - điện tử dân dụng. Intel lại đầu tư trực tiếp vào ngành chip bán dẫn, một lĩnh vực còn hoàn toàn mới với Việt Nam thời điểm đó.
Những ngày đầu, Intel gặp thách thức lớn về nhân lực. Khi tập đoàn muốn tuyển 2.000 kỹ sư từ 7 trường đại học hàng đầu tại TP.HCM, chưa đến 100 người đáp ứng đầy đủ 100% tiêu chí. Intel sau đó phối hợp với các trường đại học và doanh nghiệp trong nước, cử nhân sự ra nước ngoài đào tạo và đưa chuyên gia quốc tế vào Việt Nam hướng dẫn trực tiếp trên thiết bị thực tế. Sau hơn một năm, bài toán nhân lực được khắc phục nhờ khả năng tiếp thu nhanh của thế hệ trẻ Việt Nam.
20 năm trước, Intel đã lựa chọn Việt Nam để đặt nhà máy lắp ráp và kiểm định ( ATM - assembly and test manufacturing plants) lớn nhất thế giới. Đây là một quá trình tìm kiếm và nỗ lực của cả 2 bên.
Theo bà Phạm Chi Lan, quyết định chọn Việt Nam của Intel xuất phát từ tầm nhìn địa kinh tế. Ban đầu, tập đoàn cân nhắc 4 điểm đến gồm Trung Quốc (Thành Đô), Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam. Dù khi đó Việt Nam có nhiều bất lợi hơn, Intel nhìn thấy lợi thế về vị trí, với bán kính 1.000 km có thể kết nối các thị trường trọng điểm trong khu vực.
Đến nay, với mạng lưới hơn 60 hiệp định thương mại tự do (FTA) và quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với Mỹ, khả năng kết nối từ Việt Nam đã vươn xa hơn.
Nhà máy Intel tại Khu công nghệ cao TP.HCM hiện là cơ sở lắp ráp và kiểm thử lớn nhất trong mạng lưới toàn cầu của tập đoàn, tạo hơn 6.000 việc làm chất lượng cao và đóng góp lũy kế khoảng 90 tỷ USD giá trị xuất khẩu. Intel cũng vừa hoàn tất bàn giao 31 thiết bị lắp ráp và kiểm định chip cho Khu công nghệ cao TP.HCM và Đại học Quốc gia Hà Nội, góp phần phục vụ mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn của Việt Nam.
FDI thế hệ mới và sự thay đổi trong cách thu hút vốn
Tính đến hết tháng 8/2026, Việt Nam ghi nhận tổng vốn FDI đăng ký hơn 40,6 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD.
Dòng vốn năm 2026 tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao. Trong bán dẫn và AI, Intel nâng tổng vốn đầu tư lên 4,1 tỷ USD tại TP.HCM, Amkor đầu tư 1,6 tỷ USD tại Bắc Ninh, cùng sự hiện diện của các phòng lab AI từ Nvidia.
Ở lĩnh vực điện tử công nghệ cao, Samsung duy trì tổng vốn tích lũy trên 22 tỷ USD, bên cạnh dòng vốn hàng tỷ USD từ Apple, Foxconn, Luxshare và Pegatron. Trong ô tô điện và năng lượng xanh, Tesla gia nhập thị trường, Lego vận hành nhà máy trung hòa carbon trị giá 1 tỷ USD và Sembcorp đầu tư chuỗi VSIP xanh.
Trong lĩnh vực bất động sản và đô thị thông minh, Sumitomo triển khai dự án 4,2 tỷ USD tại Hà Nội, Trump Organization hợp tác dự án 1,5 tỷ USD tại Hưng Yên và CapitaLand đầu tư dự án Sycamore 1 tỷ USD tại Bình Dương.

Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, sự thay đổi về chất của dòng vốn ngoại phản ánh bước chuyển trong tư duy quản lý. Việt Nam đã chuyển từ cơ chế ưu đãi trước sang “hậu ưu đãi”, tức chỉ dành ưu đãi khi nhà đầu tư thực hiện đúng các cam kết về công nghệ và môi trường.
Việt Nam cũng kiên quyết nói “không” với dự án công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm, tiêu tốn nhiều năng lượng hoặc khai thác thô tài nguyên.
Bà Phạm Chi Lan cho rằng Việt Nam đang chủ động chứng minh năng lực, trí tuệ và chuẩn bị hạ tầng đồng bộ từ năng lượng xanh, nguồn nước, giao thông đến hạ tầng số để thu hút các tập đoàn toàn cầu.
Dù cạnh tranh FDI với Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan hay Mexico ngày càng gay gắt, Việt Nam vẫn có những lợi thế riêng nhờ sự ổn định chính trị, mạng lưới Hiệp định thương mại (FTA) sâu rộng và định hướng phát triển bền vững.
Bên cạnh những con số xuất khẩu, việc thu hút thêm vốn FDI đang đặt ra bài toán về khả năng nâng cao giá trị Việt Nam tạo ra trong chuỗi sản xuất.
Khối FDI hiện đóng góp hơn 20% GDP và chiếm tới 70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Theo một nghiên cứu của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) phối hợp với Bộ Công Thương, tỷ lệ giá trị gia tăng trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam đạt trung bình 10%, so với 26% của Philippines. Đây là dư địa để Việt Nam tiếp tục nâng cao giá trị trong chuỗi sản xuất.
Làn sóng đầu tư công nghệ cao đang mở ra cơ hội để Việt Nam tiến sâu hơn từ gia công, lắp ráp sang các hoạt động có hàm lượng trí tuệ và chất xám cao hơn. Câu chuyện Bosch là một minh chứng. Từ 200 kỹ sư Việt Nam khi thành lập trung tâm R&D năm 2008, đội ngũ này đã tăng lên hơn 4.000 người, đưa cơ sở tại Việt Nam trở thành trung tâm R&D lớn nhất ngoài nước Đức của Bosch, với hơn 800 đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ toàn cầu.
Theo bà Phạm Chi Lan, doanh nghiệp nội địa cần tiếp tục nâng cao năng lực quản trị và chuẩn hóa các tiêu chí ESG (môi trường, xã hội, quản trị). Hệ sinh thái 1 triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) cùng lực lượng khởi nghiệp trẻ đang có những chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Cùng với đó, sự chuyển giao thế hệ tại các doanh nghiệp gia đình đang góp phần hình thành tư duy quản trị mới.
Trong quá trình này, các doanh nghiệp như Viettel, FPT, VinGroup, CMC cần phát huy vai trò “sếu đầu đàn”, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước từ nhóm cung ứng trực tiếp đến các doanh nghiệp cung ứng ở những tầng sâu hơn phát triển công nghiệp hỗ trợ, từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với niềm tin vào bản lĩnh và trí tuệ của thế hệ trẻ, chuyên gia Phạm Chi Lan cho rằng Việt Nam có thể tiếp tục tiến trên con đường tự chủ công nghệ, hiện thực hóa khát vọng hùng cường và nâng cao vị thế trên bản đồ kinh tế thế giới.