80% SME đang khó khăn: Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội chỉ ra 4 chữ 'S' để doanh nghiệp trụ vững
Khoảng 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trên địa bàn đang gặp khó khăn. Theo ông Nam, để nâng sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần tập trung vào 4 yếu tố bắt đầu bằng chữ “S”: Strategy, Structure, Sensitive và Society.
80% SME gặp khó, sức ép không chỉ đến từ vốn
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 - khu vực miền Bắc chiều 2/10, ông Trần Đăng Nam, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, Chủ tịch Tập đoàn Dolgroup, cho biết, logistics đang là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt. Ông ví logistics như “huyết mạch” của nền kinh tế, song chi phí logistics tại Việt Nam vẫn ở mức 16-18% GDP, cao hơn mức bình quân thế giới 10-12% và Singapore dưới 10%, theo dữ liệu Bộ Công Thương.
Chi phí logistics cao cùng những hạn chế về hạ tầng vật chất, hạ tầng số, thể chế, chính sách và nhân lực đang tạo sức ép lên doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư.
“Logistics bây giờ là quản lý cả một chuỗi cung ứng, đưa ra các giải pháp để tối ưu nguồn nhân lực, chi phí và toàn bộ hệ thống, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, tổ chức hoặc một quốc gia”, ông Nam nói.
Theo ông, một hệ thống logistics hiệu quả không chỉ cần quỹ đất và hạ tầng mà còn đòi hỏi năng lực tổ chức, vận hành sâu cả chuỗi cung ứng.
Ông dẫn trường hợp Đức với hệ thống logistics kết hợp vận tải đường bộ và vận tải đa phương thức, trong đó có liên vận đường sắt. Tại Trung Quốc, theo ông Nam, việc đầu tư hạ tầng logistics được triển khai sớm ngay cả ở những khu vực xa xôi, chưa đông dân cư hoặc chưa hình thành khu công nghiệp, qua đó tạo nền tảng thu hút đầu tư.
Trong khi đó, từ góc nhìn của doanh nghiệp, ông Nam nhận thấy một số nhà đầu tư nước ngoài đang hướng tới những quốc gia có chi phí thấp hơn như Bangladesh, Sri Lanka, Indonesia và Ấn Độ.
Điều này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh nếu muốn duy trì sức hấp dẫn đối với dòng vốn quốc tế.
Đáng chú ý, ông Nam cho rằng đà tăng của sản xuất thời gian qua chủ yếu đến từ khu vực FDI, trong khi doanh nghiệp thuần Việt có sự phân hóa mạnh.
“Có công ty tăng, nhưng có công ty thực sự rớt xuống một cách thê thảm”, ông nói.
Ông dẫn chứng tại làng nghề La Phù (Hà Nội), nhiều cơ sở không còn duy trì sản xuất như trước mà chuyển sang đặt hàng OEM từ các doanh nghiệp Trung Quốc để hoàn thiện sản phẩm.
Từ thực tế hoạt động của Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, ông Nam cho biết khoảng 80% SME trên địa bàn đang gặp khó khăn, dù các chỉ số kinh tế chung vẫn tích cực.
Theo ông, những điểm nghẽn lớn nằm ở khả năng tiếp cận vốn, chi phí tuân thủ và áp lực tái cấu trúc, chuẩn hóa trong thời gian ngắn. Không ít doanh nghiệp không kịp thích ứng, dẫn tới đứt gãy dòng tiền, yếu về quản trị rủi ro và quản trị tài chính.

4 chữ “S” để doanh nghiệp thay đổi
Trong bối cảnh đó, ông Trần Đăng Nam cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi cách vận hành và tập trung vào 4 yếu tố bắt đầu bằng chữ “S”.
Thứ nhất là Strategy - chiến lược. Theo ông Nam, chủ doanh nghiệp cần dành nhiều nguồn lực hơn cho việc xây dựng và thực thi chiến lược thay vì chỉ xử lý công việc hàng ngày.
“Nếu chúng ta cứ loay hoay với việc bán hàng, giải quyết các sự vụ mà không có chiến lược, chúng ta sẽ không thể nào làm lớn được”, ông nói.
Thứ hai là Structure - cấu trúc. Doanh nghiệp cần tái cấu trúc hệ thống và mô hình quản trị, đồng thời tăng cường liên kết và hướng tới mô hình chuỗi.
Theo ông Nam, nếu chỉ kinh doanh đơn lẻ, doanh nghiệp sẽ khó xoay xở khi nguồn lực, giá vốn và chi phí cùng tăng, trong khi biên lợi nhuận có xu hướng giảm.
Thay vì chỉ tập trung vào một khâu, doanh nghiệp cần xây dựng chuỗi hoặc hệ sinh thái để tạo hiệu quả trên toàn hệ thống.
Ông lấy logistics làm ví dụ. Các tập đoàn nước ngoài có thể chấp nhận thua lỗ ở một khâu, chẳng hạn hạ tầng logistics, bởi đây chỉ là một mắt xích trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Lợi nhuận từ những công đoạn khác có thể bù đắp, qua đó duy trì hiệu quả chung của cả chuỗi.
Thứ ba là Sensitive - độ nhạy với thị trường. Theo ông Nam, doanh nhân phải liên tục cập nhật và thích nghi với thị trường, thay vì đứng yên trước khó khăn.
“Non-stop and never give up”, ông nhấn mạnh.
Tuy nhiên, ông cho rằng doanh nghiệp không nên chỉ chạy theo mục tiêu tiền bạc trong ngắn hạn mà cần xây dựng, hệ thống hóa hoạt động để tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Thứ tư là Society - xã hội. Theo ông Nam, doanh nghiệp không thể chỉ tập trung vào lợi ích riêng mà cần hướng tới đóng góp cho cộng đồng và xã hội.
Khi tạo ra giá trị chung, doanh nghiệp có thể thu hút thêm đối tác, trở thành một mắt xích trong hệ thống lớn hơn và hình thành sức mạnh liên kết.
Muốn “Go Global”, lãnh đạo phải thay đổi trước
Không dừng ở câu chuyện nâng sức cạnh tranh trong nước, ông Nam cho rằng doanh nghiệp Việt muốn vươn ra quốc tế trước hết phải thay đổi tư duy của người lãnh đạo.
Theo ông, lãnh đạo doanh nghiệp phải trực tiếp đi nhiều, tiếp xúc với thị trường quốc tế và hiểu cách các thị trường này vận hành. Không thể chỉ ngồi tại Việt Nam và kỳ vọng doanh nghiệp có thể vươn ra toàn cầu.
“Không phải cứ thuê một giám đốc kinh doanh nước ngoài hoặc nhân sự quốc tế là chúng ta có thể Go Global, rất khó. Bản thân chúng ta là lãnh đạo, chúng ta phải có tư duy toàn cầu đã”, ông Nam nói.
Sau khi hình thành Global Thinking, doanh nghiệp cần xây dựng mô hình có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Theo ông, quy mô doanh nghiệp có thể chưa lớn nhưng sản phẩm, dịch vụ phải tạo ra giá trị hoặc năng lực mà đối thủ bên ngoài khó thay thế.
Cùng với năng lực sản phẩm, doanh nghiệp cần chuyên nghiệp hóa mô hình hoạt động, xây dựng uy tín và niềm tin với đối tác.
Ông Nam cũng nhấn mạnh doanh nghiệp cần đưa lợi ích của khách hàng và cộng đồng vào trong cách thức vận hành. Nếu chỉ tập trung vào lợi ích của doanh nghiệp hoặc cá nhân mà bỏ qua khách hàng và các bên liên quan, việc xây dựng niềm tin với đối tác quốc tế sẽ trở nên khó khăn.
Theo ông, sức ép cạnh tranh hiện nay vừa là thách thức, vừa buộc doanh nghiệp Việt phải thay đổi nhanh hơn: từ quản trị theo kinh nghiệm sang quản trị có hệ thống, từ kinh doanh đơn lẻ sang liên kết chuỗi và từ tư duy thị trường trong nước sang tư duy cạnh tranh quốc tế.