Bà Nguyễn Thị Cúc: Xưởng gỗ ngừng hoạt động từ Covid-19, bác thương binh vẫn 'mắc kẹt' với khoản nghĩa vụ 61 triệu đồng
Một xưởng gỗ ngừng hoạt động từ thời Covid-19, người chủ là thương binh không biết phải làm thủ tục đóng mã số thuế. Nhiều năm sau, khoản nghĩa vụ phát sinh đã lên tới 61 triệu đồng, khiến ông không đủ khả năng chi trả và tiếp tục mắc kẹt với thủ tục thuế.
Tại tọa đàm “Làm sạch mã số thuế: Làm sao để doanh nghiệp ‘đóng cửa’ thuận lợi?” ngày 9/10, do Báo Dân trí phối hợp với Cục Thuế tổ chức, bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, đã chia sẻ câu chuyện trên khi đề cập đến những vướng mắc trong xử lý doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế.
Theo bà Cúc, một cán bộ tại Cục Thuế Thừa Thiên Huế từng phản ánh trường hợp một thương binh mở xưởng gỗ để con kinh doanh. Đúng thời điểm dịch Covid-19 bùng phát, xưởng không thể hoạt động. Người chủ chỉ biết phải ngừng hoạt động trong thời gian dịch, nhưng không biết sau đó cần làm thủ tục chấm dứt mã số thuế.
Hệ quả là đến nay, khoản nghĩa vụ phát sinh do tình trạng ngừng hoạt động kéo dài đã lên tới 61 triệu đồng. Do không có khả năng tài chính để nộp khoản tiền này, người thương binh vẫn chưa thể đóng mã số thuế.
Câu chuyện cho thấy một vướng mắc đáng chú ý trong quá trình làm sạch mã số thuế: có những cơ sở kinh doanh đã ngừng hoạt động trên thực tế nhưng vẫn chưa thể hoàn tất thủ tục pháp lý, trong khi các khoản nghĩa vụ tiếp tục phát sinh theo quy định.
Bà Cúc cho rằng cần phân loại rõ những trường hợp này để có phương án xử lý phù hợp, thay vì áp dụng cách thức giống nhau cho doanh nghiệp không còn hoạt động, không phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế và những trường hợp cố tình trốn tránh nghĩa vụ, mua bán hóa đơn bất hợp pháp hoặc bỏ trốn.
“Nếu không phân loại thì sẽ dẫn đến tình trạng những người tuân thủ pháp luật bị đối xử giống với những trường hợp cố tình chây ỳ, cuối cùng cũng không nộp thuế”, bà Cúc nêu quan điểm.

Không có doanh thu vẫn có thể gánh hàng chục triệu đồng tiền phạt
Không chỉ trường hợp xưởng gỗ nói trên, bà Cúc cho biết có doanh nghiệp gửi hồ sơ cho bà phản ánh rằng thực tế không có nợ thuế nhưng vẫn phát sinh lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt do chậm nộp tờ khai.
Theo hồ sơ được bà dẫn lại, riêng khoản tiền phạt liên quan đến việc chậm nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng là 11,5 triệu đồng; khoản phạt liên quan đến tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là 11,5 triệu đồng. Tổng hai khoản lên tới 23 triệu đồng.
Bà cho biết mức phạt được tính theo Nghị định 310; nếu áp dụng quy định cũ tại Nghị định 125 thì số tiền có thể còn lớn hơn.
“Vậy một doanh nghiệp không có doanh thu thì tại sao vẫn phải nộp tờ khai?”, bà Cúc đặt vấn đề.
Theo bà, đây là tình huống khiến cả doanh nghiệp lẫn cơ quan thuế gặp khó khăn. Luật Quản lý thuế quy định doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế nhưng không nộp tờ khai vẫn có thể bị xử phạt. Vì vậy, ngay cả khi doanh nghiệp không còn hoạt động và không phát sinh số thuế phải nộp, các vi phạm về thủ tục kê khai vẫn có thể dẫn đến khoản phạt.
Bà Cúc cho rằng cần nghiên cứu cơ chế xử lý đối với những doanh nghiệp thực tế không hoạt động, không có nợ thuế và không có dấu hiệu gian lận. Với những trường hợp đủ điều kiện, cơ quan chức năng có thể xem xét cho chấm dứt hoạt động mà không buộc doanh nghiệp tiếp tục gánh những khoản phạt phát sinh từ việc không nộp tờ khai trong thời gian ngừng kinh doanh.
“Nếu không xử lý, sẽ có tình trạng doanh nghiệp không phát sinh thuế nhưng cuối cùng vẫn phải gánh khoản nghĩa vụ lên tới 63-65 triệu đồng, thậm chí có đơn vị lên tới 100 triệu đồng”, bà cảnh báo.
Cần phân loại doanh nghiệp để gỡ điểm nghẽn đóng mã số thuế
Theo Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, muốn giải quyết tình trạng tồn đọng mã số thuế, trước hết phải phân loại rõ các nhóm doanh nghiệp.
Một nhóm là những doanh nghiệp, hộ kinh doanh mới thành lập nhưng chưa hoạt động, chưa có doanh thu hoặc chỉ phát sinh doanh thu nhỏ, chưa có nghĩa vụ thuế đáng kể. Nhóm khác là những đối tượng có dấu hiệu mua bán hóa đơn bất hợp pháp, mất tích, bỏ trốn, còn nợ thuế hoặc cố tình né tránh quyết toán.
Việc phân loại có ý nghĩa quan trọng để tránh đánh đồng người không hiểu biết, chưa thực hiện đầy đủ thủ tục với đối tượng cố tình vi phạm pháp luật. Với doanh nghiệp đã hoạt động, còn nợ thuế, hóa đơn hoặc chứng từ chưa được xử lý, việc quyết toán vẫn cần được thực hiện theo quy định.
Bà Cúc cũng đề xuất xem xét xử lý các khoản lệ phí môn bài còn tồn đọng đối với những hộ, cá nhân kinh doanh trong các năm trước nhưng thực tế không có doanh thu, không hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo bà, dù khoản lệ phí này không lớn, khi cộng dồn qua nhiều năm cùng tiền chậm nộp, số tiền có thể trở thành gánh nặng khiến người kinh doanh không thể hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế.
Bên cạnh việc xử lý các hồ sơ tồn đọng, bà cho rằng cần chuẩn hóa quy trình ngay từ khâu đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế. Doanh nghiệp phải được hướng dẫn rõ trách nhiệm khi bắt đầu hoạt động, khi tạm ngừng và khi chấm dứt kinh doanh, cũng như những nghĩa vụ có thể phát sinh nếu không thực hiện thủ tục cần thiết.
“Không thể chỉ tạo điều kiện để đăng ký kinh doanh rồi coi như hoàn tất, còn doanh nghiệp hoạt động như thế nào, tồn tại hay chấm dứt ra sao thì không quan tâm”, bà nhấn mạnh.
Theo bà Cúc, nếu xử lý được các trường hợp không có dấu hiệu gian lận, không phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế và xây dựng được cơ chế phù hợp cho từng nhóm đối tượng, số lượng doanh nghiệp có thể hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế sẽ tăng lên, thay vì chỉ dừng ở con số 130.000 trường hợp được đề cập tại tọa đàm.