Dấu ấn kinh tế Việt Nam 2025: Những quyết sách lịch sử định hình tầm vóc quốc gia
Năm 2025 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam, khi hàng loạt quyết sách lịch sử được ban hành, tạo nên nền tảng mới cho tăng trưởng dài hạn.

Từ cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy, mở rộng không gian phát triển đến tái cấu trúc nguồn lực và nâng tầm vị thế quốc gia, mỗi quyết sách đều mang tính định hình cho tương lai. Đây không chỉ là năm của những thành tựu nổi bật, mà còn là thời điểm Việt Nam mở ra quỹ đạo tăng trưởng cao hơn, bền vững hơn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 và trở thành nền kinh tế có thu nhập cao vào năm 2045.

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản trị quốc gia khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp bắt đầu vận hành đồng loạt tại 34 tỉnh, thành phố. Đây là cuộc cải cách lớn nhất kể từ Đổi mới 1986, một thời khắc thiêng liêng của dân tộc, được ví như cuộc “sắp xếp lại giang sơn” để kiến tạo tương lai. Cột mốc này mở ra không gian phát triển mới, gần dân, vì dân, và trở thành bệ phóng chiến lược hướng tới mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc.
Chủ trương lớn này nhận được sự đồng thuận mạnh mẽ của Nhân dân - yếu tố then chốt bảo đảm thành công. Như Tổng Bí thư Tô Lâm viết trong bài “Sức mạnh của đoàn kết” ngày 29/6/2025: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Khi ý Đảng hòa cùng lòng dân, không có thế lực nào có thể cản bước dân tộc ta.
Thông điệp “sắp xếp lại giang sơn” mà Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh đã làm rõ tầm vóc lịch sử của quyết sách này: không chỉ là điều chỉnh địa giới hành chính, mà là bước tái định hình lại không gian phát triển quốc gia theo hướng hiệu quả và bền vững.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy tổ chức không gian phát triển đã bộc lộ nhiều hạn chế: không gian phát triển bị chia cắt theo địa giới; liên kết vùng lỏng lẻo; đầu tư còn dàn trải, chưa tạo được các vùng động lực dẫn dắt tăng trưởng; kết cấu hạ tầng quốc gia chưa đồng bộ, hiện đại. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tư duy phát triển dàn trải, thiếu trọng tâm; thiếu quy hoạch tổng thể cấp quốc gia; thiếu cơ chế thúc đẩy kinh tế liên vùng; và tư tưởng cục bộ địa phương vẫn còn tồn tại.

Vì vậy, cuộc “sắp xếp lại giang sơn” lần này chính là bước đột phá về tổ chức để tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi dậy tiềm năng vùng miền và tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.
Với việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, chúng ta đang hình thành nên những cực tăng trưởng mở rộng có quy mô đủ lớn để phát huy lợi thế bổ trợ giữa các vùng. Chẳng hạn, Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng (khi nhập thêm Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu) giờ đây trở thành một đô thị hơn 14 triệu dân với nguồn lực, tiềm năng vượt trội, sẵn sàng vươn mình thành “điểm hẹn” của châu Á và thế giới. Việc hợp nhất ba địa phương này là kết quả của tầm nhìn dài hạn, tạo nên không gian phát triển mới có tính đồng bộ, bền vững, khoa học, thể hiện rõ tư duy chiến lược trong đổi mới mô hình tổ chức chính quyền để phục vụ nhân dân tốt hơn, gần dân hơn và hiệu quả hơn.
Tương tự, ở phía Bắc, quyết định sáp nhập tỉnh Hải Dương vào thành phố Hải Phòng đã hình thành một thực thể hành chính mới (mang tên Thành phố Hải Phòng) với vị thế và nguồn lực mạnh chưa từng có. Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá, đây là quyết định mang tầm chiến lược và ý nghĩa lịch sử, góp phần hình thành nên một cực tăng trưởng mới của vùng đồng bằng sông Hồng, tối ưu hóa việc sử dụng đất đai, nguồn nhân lực và các lợi thế của hai địa phương. Thành phố Sự kết hợp giữa một Hải Phòng vốn sôi nổi, dẫn đầu về công nghiệp và một Hải Dương giàu truyền thống văn hóa, nông nghiệp công nghệ cao sẽ giúp “1 + 1 > 2”, tạo ra sức mạnh cộng hưởng để dẫn dắt cả vùng phát triển.
Cũng tại phía Bắc, tiến trình hợp nhất Thái Bình và Hưng Yên thành tỉnh mới Hưng Yên, đặt tỉnh lỵ ở Hưng Yên, không phải là câu chuyện “ai lấn ai” mà là nhằm “hòa chung sức mạnh để phát triển”. Sau khi hợp nhất, tỉnh Hưng Yên mới có diện tích tự nhiên hơn 2.500km2 (gấp đôi tỉnh Hưng Yên cũ) và dân số hơn 3 triệu người (gồm 1,2 triệu người của Hưng Yên và 1,8 triệu người của Thái Bình).
Các chuyên gia cho rằng việc hợp nhất Hưng Yên và Thái Bình sẽ biến hai “mảnh ghép” riêng lẻ thành một thể thống nhất, tạo ra không gian kinh tế mới. Các khu công nghiệp của Hưng Yên có thể kết nối trực tiếp với nguồn lao động dồi dào từ Thái Bình, trong khi nông sản của Thái Bình tìm được đầu ra ổn định qua hệ thống logistics của Hưng Yên. Chúng ta có thể kỳ vọng về một trung tâm phát triển hàng đầu của Đồng bằng sông Hồng trong tương lai.
Việc 11 đơn vị hành chính cấp tỉnh không nằm trong diện hợp nhất hoàn toàn chẳng phải là câu chuyện “ai ưu ái ai” mà phụ thuộc vào các yếu tố dân số, diện tích, địa lý, kinh tế, lịch sử và văn hóa.
Chẳng hạn, hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa ở Bắc Trung Bộ dù đứng riêng vẫn có tiềm năng, lợi thế nội tại rất lớn, có thể coi là “Việt Nam thu nhỏ” với địa hình đa dạng - núi non, đồng bằng, biển, biên giới, sân bay, hải cảng, đường cao tốc.
Việc đặt tên cho đơn vị hành chính mới cũng được người dân hiểu rằng đây là kết quả của sự nghiên cứu thấu đáo, cân nhắc thận trọng các yếu tố truyền thống, lịch sử, văn hóa; ưu tiên sử dụng một trong các tên gọi của các tỉnh trước khi sáp nhập, hợp nhất để đặt tên cho tỉnh mới, hạn chế tối đa tác động ảnh hưởng tới người dân, doanh nghiệp do phải chuyển đổi giấy tờ, chỉ dẫn địa lý...
Nhìn rộng ra cả nước, việc hình thành 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh mới (28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc Trung ương) mang ý nghĩa tái cơ cấu toàn diện hệ thống chính quyền địa phương. Thay vì 63 tỉnh thành phân mảnh, nay Việt Nam có những tỉnh/thành quy mô lớn hơn, đủ tầm vóc kết nối liên vùng, liên khu vực và cạnh tranh trên bản đồ kinh tế khu vực, quốc tế. Bộ máy mới hợp nhất cũng giúp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất đai, nguồn nước, ngân sách…), tránh lãng phí do trùng lặp chức năng trước đây.
Cùng với việc tái sắp xếp địa giới, mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã/phường) đánh dấu bước cải cách sâu rộng trong tổ chức bộ máy nhà nước. Sau hơn tám thập niên vận hành mô hình ba cấp từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay, Việt Nam chuyển sang hệ thống hai cấp - một thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy quản trị. Việc chấm dứt cấp trung gian (huyện, quận) được kỳ vọng sẽ rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền với người dân, loại bỏ những tầng nấc hành chính không cần thiết, vốn gây chậm trễ trong phản hồi, thực thi chính sách và cung cấp dịch vụ công.
TS Nguyễn Văn Đáng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy mô hình chính quyền hai cấp là chủ trương đúng, trúng và là yêu cầu cấp thiết để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Khi bộ máy địa phương chỉ còn hai cấp, chính quyền sẽ gần dân và gần doanh nghiệp hơn, bám sát đời sống thực tế hơn, từ đó hoạt động hiệu lực, linh hoạt và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội.
Song song với việc tinh gọn, Nhà nước tập trung nguồn lực - cả nhân sự và tài chính - vào cấp cơ sở để phục vụ Nhân dân tốt nhất. Đội ngũ cán bộ có năng lực sẽ được bố trí tại cấp tỉnh và xã/phường thay vì dàn trải qua nhiều tầng. Cấp huyện trước đây, nơi tiềm ẩn nguy cơ quan liêu và kéo dài thời gian xử lý, được thay bằng các trung tâm điều phối hiện đại, dựa trên kết nối dữ liệu. Thay cho con dấu và thủ tục giấy tờ rườm rà, mô hình hai cấp sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền điện tử nhằm tăng tốc xử lý thủ tục, minh bạch hóa quy trình và nâng cao chất lượng phục vụ.
.png)

Chưa khi nào cụm từ "cách mạng tinh gọn bộ máy" lại trở thành một từ khóa thu hút nhiều sự chú ý của dư luận nhiều như trong năm 2025. Sự chuyển động dứt khoát, dồn dập, và mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị trong thời gian vận hành mô hình chính quyền 2 cấp từ ngày 1-7-2025 đến nay đang truyền cảm hứng tích cực và lan tỏa niềm tin trong xã hội về một quyết tâm, nỗ lực đổi mới thực sự cả về tư duy và hành động để củng cố, tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị, đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới.
Trong quý I/2025, Quốc hội đã thông qua nhiều luật, nghị quyết quan trọng như: Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; 1 Nghị quyết về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; 4 Nghị quyết để thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Quốc hội, Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; đặc biệt là Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ, cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (2021 - 2026) và kiện toàn 06 chức danh thành viên Chính phủ (gồm: 02 Phó Thủ tướng và 04 Bộ trưởng).
Theo đó, cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 có 17 bộ, ngành (gồm: 14 bộ và 3 cơ quan ngang Bộ), giảm 5 bộ, ngành so với trước đây.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 176/2025/QH15 về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, đến nay, 13/14 Bộ, 2/3 cơ quan ngang Bộ và 5/5 cơ quan thuộc Chính phủ đã được Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức.
Về tổ chức bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, giảm 13/13 tổng cục và tổ chức tương đương, giảm 519 cục và tổ chức tương đương, giảm 219 vụ và tổ chức tương đương, giảm 3.303 chi cục và tương đương chi cục.
Đối với các địa phương, 63 tỉnh và thành phố theo chỉ đạo chung của Chính phủ đã giảm 343 cơ quan chuyên môn và tương đương thuộc UBND cấp tỉnh; 1.454 cơ quan chuyên môn và tương đương thuộc UBND cấp huyện.
Bên cạnh đó, số lượng đơn vị sự nghiệp công lập của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cũng như chính quyền địa phương đã giảm rất rõ rệt.
Đặc biệt, quá trình sắp xếp tinh gọn bộ máy đã giảm 100.000 người lao động trong khu vực nhà nước, hiệu suất giải quyết thủ tục hành chính tăng 30%, tiết kiệm ngân sách hơn 2.000 tỉ đồng/năm. Đáng chú ý, cơ cấu tổ chức mới cũng tạo điều kiện ứng dụng công nghệ số, giảm 40% thời gian phê duyệt dự án...
Bên cạnh đó, kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV đánh dấu một bước tiến quan trọng trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. Tại kỳ họp, Quốc hội đã bầu 2 phó chủ tịch Quốc hội và 6 chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội; biểu quyết thông qua Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và Nghị quyết số về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
Sau kiện toàn, Quốc hội khóa XV có 9 cơ quan, giảm 5 cơ quan, đạt tỷ lệ giảm 37,5%. Với các vụ, đơn vị trực thuộc Văn phòng Quốc hội, sau sắp xếp giảm trên 51% đầu mối.
Cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy chính là việc tất yếu phải làm khi "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" cùng với quyết tâm cao nhất, hành động quyết liệt của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Các chuyên gia kinh tế ước tính việc sáp nhập, tinh gọn tổ chức bộ máy sẽ giúp tiết kiệm khoảng 262.500 tỷ đồng mỗi năm, chiếm khoảng 3,8% GDP cả nước. Đây là nguồn lực kinh tế rất lớn để phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với khát vọng đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, yêu cầu đổi mới thể chế được đặt ra nhằm tạo bước đột phá để khơi thông các “điểm nghẽn” thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn. Việc Bộ Chính trị ban hành bốn nghị quyết quan trọng trong giai đoạn 2024 - 2025 đã hợp thành “Bộ tứ trụ cột” thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Bốn nghị quyết này gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, “Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (Nghị quyết số 57); Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” (Nghị quyết số 59); Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” (Nghị quyết số 66) và Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, “Về phát triển kinh tế tư nhân” (Nghị quyết số 68).
Đây không chỉ là bốn chính sách ở bốn lĩnh vực khác nhau, mà là bốn mạch nguồn chiến lược cùng định hình chất lượng thể chế, nâng tầm tư duy phát triển và khai mở tiềm lực quốc gia trong thời kỳ mới.
Theo đó, Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ với tính đột phá sẽ là trụ đỡ của tăng trưởng dài hạn. Nghị quyết 57, xác định rõ, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là động lực chủ yếu thúc đẩy hiện đại hóa đất nước, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.
Còn Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế nhấn mạnh, Việt Nam không thể chỉ “so với chính mình”, mà phải vươn ra thế giới, phải hội nhập thực chất. Chúng ta không chỉ xuất khẩu hàng hóa, mà còn phải thu hút nguồn lực toàn cầu đầu tư vào Việt Nam. Quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết là: Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, làm chủ thể sáng tạo.
Trong khi đó, Nghị quyết 68 với mục tiêu đưa kinh tế tư nhân trở thành “động lực của động lực” trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là cách nhìn chiến lược đầy thuyết phục, khi nguồn lực trong dân vẫn còn đang phân tán, chưa được khơi dậy và quy tụ thành sức mạnh chung. Như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm nói: “Nghị quyết 68 là đặt nền móng cho sự chuyển biến toàn diện về chính sách phát triển kinh tế tư nhân: từ việc ‘thừa nhận’ sang ‘bảo vệ, khuyến khích, thúc đẩy’, từ ‘bổ trợ’ sang ‘dẫn dắt phát triển’. Đây là sự lựa chọn chiến lược đúng đắn, cấp thiết, mang tầm nhìn dài hạn, nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường vào giữa thế kỷ XXI”
Cuối cùng, Nghị quyết 66 là “chiếc chìa khóa thể chế”. Theo đó, Nghị quyết 66 là “giải pháp của giải pháp”, là nền móng thể chế để hiện thực hóa đổi mới sáng tạo, dẫn dắt hội nhập và mở cửa phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết khẳng định, pháp luật không chỉ đơn thuần là công cụ điều chỉnh hành vi xã hội, mà phải được xem là cơ sở tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước, là nền tảng vững chắc để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, và là đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Mỗi "trụ cột" đều mang một sứ mệnh riêng, nhưng khi được gắn kết thành một chỉnh thể mới sẽ tạo ra sức mạnh đủ lớn để đưa đất nước tiến xa. Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đứng trước “thời cơ vàng” để bứt phá, “Bộ tứ trụ cột” không chỉ là hệ thống công cụ quản trị quốc gia hiện đại, mà còn là bản thiết kế chiến lược mang tính nền móng, cần được nhận thức, vận dụng linh hoạt và triển khai quyết liệt để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hùng cường vào năm 2045.

Vào ngày 26/10/2025, tại Kuala Lumpur (Malaysia), nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN Summit 2025, Việt Nam và Hoa Kỳ đã chính thức công bố Tuyên bố chung Việt Nam và Hoa Kỳ về Khuôn khổ Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng.
Theo đó, Hoa Kỳ và Việt Nam đã thống nhất về Khuôn khổ Hiệp định Thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, nhằm tăng cường quan hệ kinh tế song phương, qua đó tạo điều kiện tiếp cận thị trường sâu rộng cho hàng xuất khẩu của nhau. Hiệp định Thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng sẽ kế thừa và phát triển trên nền tảng quan hệ kinh tế lâu bền giữa hai nước, bao gồm Hiệp định Thương mại song phương Hoa Kỳ - Việt Nam được ký kết năm 2000 và có hiệu lực từ năm 2001.

Ảnh 2,3 : Đoàn công tác Bộ Công thương tại buổi làm việc với Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ phụ trách Kinh tế, Môi trường và Năng lượng Jacob Helberg. (Ảnh: NGUYÊN MINH)
Trước khi tuyên bố chung được đưa ra, bối cảnh kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Mỹ trở nên căng thẳng bởi chính sách “thuế đối ứng” của Mỹ. Theo sắc lệnh của Chính phủ Mỹ ban hành tháng 4/2025, các biện pháp thuế đối ứng được áp dụng nhằm giảm thâm hụt thương mại, bảo vệ ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ.
Với Việt Nam, việc Mỹ áp mức thuế đối ứng có thể ảnh hưởng sâu rộng đến xuất khẩu của nhiều ngành hàng, từ nông sản, dệt may, đồ gỗ, thiết bị điện tử, cho đến thủy sản. Chính vì thế, việc Việt Nam chủ động đàm phán nhằm ổn định thuế quan, tạo khung pháp lý rõ ràng là điều cấp thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia và doanh nghiệp xuất khẩu.
Theo văn bản tuyên bố chung, khung hiệp định thương mại đối ứng Việt Nam - Hoa Kỳ gồm những cam kết và điều khoản chính sau: Việt Nam sẽ mở rộng ưu đãi, tạo điều kiện tiếp cận thị trường cho hầu hết hàng công nghiệp và nông nghiệp xuất khẩu từ Mỹ.
Đổi lại, Hoa Kỳ sẽ duy trì mức thuế đối ứng ở mức 20% đối với phần lớn hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam.
Đặc biệt, Mỹ đồng ý xem xét một danh mục sản phẩm, theo Phụ lục III của sắc lệnh để áp mức thuế 0% đối với một số mặt hàng nhất định từ Việt Nam, mở ra hy vọng cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt trong tương lai.
Ngoài thuế quan, hai bên cũng thống nhất sẽ hợp tác để xử lý các rào cản phi thuế quan - bao gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn, môi trường, liên quan đến tiêu chuẩn nhập khẩu ô tô, thiết bị y tế, dược phẩm từ Mỹ; đồng thời cam kết về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cải thiện thủ tục hải quan, tạo thuận lợi cho thương mại, dịch vụ và đầu tư.
Khung hiệp định còn đặt định cam kết mở rộng hợp tác ở các lĩnh vực thương mại số, dịch vụ, đầu tư, chuỗi cung ứng, thể hiện rõ định hướng hợp tác toàn diện, không chỉ dừng ở xuất nhập khẩu hàng hóa.
Việc đi đến tuyên bố chung không phải ngẫu nhiên. Kể từ đầu năm 2025, hai bên đã tiến hành nhiều vòng đàm phán thương mại đối ứng. Trong đó vòng đàm phán thứ 3 được tổ chức tại Washington D.C vào tháng 6/2025, với sự tham gia của đại diện nhiều bộ, ngành Việt Nam nhằm bàn thảo các vấn đề kỹ thuật, tiêu chuẩn xuất xứ, quy định nhập khẩu, rào cản phi
Suốt quá trình đó, dù phải đối mặt với áp lực từ chính sách thuế đối ứng toàn cầu của Mỹ, phía Việt Nam vẫn chủ động tham gia đàm phán với tinh thần xây dựng, nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia, doanh nghiệp và người lao động. Khi cả hai bên cùng nhận thấy lợi ích cởi mở hơn khi có khuôn khổ ràng buộc rõ ràng, tuyên bố chung ngày 26/10/2025 đã được thông qua.
Việc công bố hiệp định thương mại đối ứng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng với kinh tế Việt Nam trong năm 2025, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá và căng thẳng thương mại gia tăng. Trước hết, hiệp định này giúp doanh nghiệp Việt giảm thiểu rủi ro từ những biến động thuế đối ứng, tạo ra môi trường xuất khẩu bền vững, dễ dự báo hơn.
Việc Mỹ sẵn sàng áp mức thuế 0% cho một số mặt hàng Việt mở ra cơ hội lớn cho ngành xuất khẩu chủ lực, giúp tăng sức cạnh tranh, nâng cao giá trị hàng hóa Việt Nam xuất khẩu, từ đó đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế vĩ mô.
Ngoài ra, với các cam kết liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, thủ tục hải quan, dịch vụ - khung hiệp định góp phần hiện đại hoá chuỗi cung ứng, nâng cấp sản xuất, cải thiện quản trị, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Điều này không chỉ có lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn giúp nâng cao chất lượng hàng hóa, mở cửa thị trường quốc tế rộng hơn.
Cuối cùng, việc Việt Nam đạt được đồng thuận với một đối tác lớn như Mỹ, thể hiện năng lực ngoại giao kinh tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời gửi đi thông điệp rằng Việt Nam sẵn sàng hội nhập sâu rộng, minh bạch và công bằng trong thương mại toàn cầu.
Thực tế kể từ khi công bố tuyên bố chung, Việt Nam và Mỹ đã tiến hành thêm các phiên đàm phán cấp kỹ thuật. Việc tiếp tục đàm phán sau tuyên bố chung là cần thiết vì tuyên bố chỉ xác lập khung, các chi tiết quan trọng cần được thỏa thuận kỹ càng - như danh mục sản phẩm được hưởng thuế 0 %, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy tắc xuất xứ, quy định bảo vệ sở hữu trí tuệ, đầu tư, chuỗi cung ứng...
Ngoài ra, cả hai bên đều đồng thuận rằng đây là bước để củng cố niềm tin, khẳng định cam kết của cả hai quốc gia trong việc xây dựng một khuôn khổ thương mại hiện đại, công bằng và phù hợp với lợi ích lâu dài của cả hai bên.
Với tuyên bố chung vào 26/10/2025, mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn mới của hợp tác khi đã có khung pháp lý rõ ràng, minh bạch, hướng tới phát triển bền vững, song phương. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, khung thỏa thuận thương mại Việt Nam - Mỹ là “bước tiến ngoại giao quan trọng”, giúp giảm thiểu rủi ro thuế suất và củng cố vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Năm 2025, Việt Nam ghi nhận hai dòng lực song hành mang tính kiến tạo: Đầu tư hạ tầng quy mô lớn và dòng vốn FDI chuyển dịch mạnh vào công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ. Cả hai không chỉ phản ánh niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước vào triển vọng phát triển, mà còn cho thấy sự dịch chuyển trọng tâm từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo.
Đây chính là nền tảng để tái cấu trúc nền kinh tế, hướng tới mô hình tăng trưởng chất lượng, bền vững trong thập niên tới.

Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình phát triển hạ tầng quốc gia, khi hàng loạt dự án giao thông trọng điểm được thông tuyến, khởi công hoặc hoàn thành vượt tiến độ, đặc biệt là các tuyến cao tốc Bắc - Nam, vành đai đô thị, sân bay, cảng biển và tuyến kết nối vùng.
Cuối năm 2025, Việt Nam hướng tới mốc 3.000 km đường cao tốc, trong khi hàng trăm dự án đầu tư công giai đoạn 2021-2025 đạt tỷ lệ giải ngân cao. Hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ giúp giảm chi phí logistics, thúc đẩy liên kết vùng, tạo việc làm quy mô lớn và mở rộng không gian kinh tế.
Cùng với đó, năng lực chống chịu, an ninh kinh tế được củng cố và nâng cao. Sự bứt tốc trong đầu tư và hoàn thiện hạ tầng năm 2025 là biểu hiện rõ nét của năng lực hành động; tạo dựng "huyết mạch" kinh tế mới, mở đường cho tăng trưởng vùng, thu hút đầu tư, tái cơ cấu sản xuất và nâng tầm năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nếu giai đoạn 2010-2020, Việt Nam chủ yếu thu hút FDI nhờ chi phí lao động thấp, thì năm 2025 là bước ngoặt chất lượng. Dòng vốn đầu tư không còn tìm đến để tận dụng ưu đãi, mà vì Việt Nam đã trở thành mắt xích đáng tin cậy trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó là sự thay đổi bản chất từ "nền kinh tế đi thuê công nghệ sang nền kinh tế được tin cậy để cùng phát triển công nghệ".
Đáng chú ý, dòng vốn FDI ghi nhận sự chuyển dịch mang tính lịch sử khi khoảng 70% tổng vốn FDI tập trung vào công nghệ cao, năng lượng sạch và công nghiệp hỗ trợ. Lần đầu tiên sau hơn 20 năm, tỷ trọng FDI công nghệ cao vượt các lĩnh vực gia công truyền thống như dệt may, da giày, lắp ráp điện tử.
Đây là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang bước vào nấc thang giá trị mới trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhà đầu tư quốc tế không còn tìm đến Việt Nam chỉ vì chi phí lao động thấp, mà bởi sự ổn định thể chế, chất lượng hạ tầng và niềm tin vào môi trường kinh doanh.
Dòng vốn FDI chất lượng cao tạo ra tác động lan tỏa mạnh mẽ: nâng cấp năng lực sản xuất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cải thiện năng suất lao động và đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu kinh tế theo hướng giá trị gia tăng cao. Đây là kết quả trực tiếp của cải cách đất đai, thủ tục hành chính, logistics và ưu đãi thuế xanh - những yếu tố cốt lõi định hình môi trường đầu tư mới.
Chuyển đổi số cũng nổi lên như động lực quan trọng nâng cao năng suất quốc gia. Khi dữ liệu trở thành “tư liệu sản xuất” và công nghệ là “đòn bẩy phương thức sản xuất”, các ngành từ công nghiệp, tài chính đến nông nghiệp và dịch vụ công đều được tối ưu hóa, rút ngắn thời gian và chi phí giao dịch. Chuyển đổi số giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước, tạo năng lực tự tái tạo động lực tăng trưởng - yếu tố quan trọng cho mục tiêu thịnh vượng 2045.

Khép lại năm 2025, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng khi tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ sau các cú sốc toàn cầu, xuất khẩu và đầu tư nước ngoài duy trì đà tích cực, trong khi ổn định vĩ mô được củng cố và các chỉ số lạm phát, tỷ giá kiểm soát tốt. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã thống nhất chốt các mục tiêu, định hướng cho kế hoạch phát triển kinh tế ‑ xã hội năm 2026 tại chương trình kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, đặt nền móng cho một giai đoạn tăng tốc mới, hướng tới tăng trưởng cao, bền vững và toàn diện hơn cả về kinh tế, hạ tầng, văn hóa‑xã hội và cải cách thể chế.
Cụ thể, theo Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 được Quốc hội thông qua, các mục tiêu được đưa ra như sau:
Về mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo điều hành đồng bộ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô, các giải pháp trên các lĩnh vực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. GDP bình quân đầu người đạt 5.400-5.500 đô la Mỹ (USD); Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 24,96%; Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%. Trong đó, tiếp tục điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, tăng cường quản lý thu, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Phát huy nguồn lực từ ngân sách Nhà nước kết hợp với nguồn lực xã hội để triển khai hiệu quả các đột phá chiến lược và các Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị.
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp, bảo đảm khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý. Hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Quản lý chặt chẽ thị trường vàng, bất động sản. Phát triển mạnh thị trường trong nước, thúc đẩy du lịch, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết và các thị trường xuất khẩu tiềm năng.
Về xây dựng và hoàn thiện thể chế, để có thể triển khai ngay từ đầu năm 2026, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đang tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật. Tại kỳ họp thứ 10, dự kiến trình Quốc hội 49 luật, nghị quyết để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
Chính phủ tiếp tục tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật. Trọng tâm là pháp luật về đầu tư, kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tạo môi trường pháp lý minh bạch, thông thoáng, giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, đưa thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Rà soát những hạn chế, bất cập, vướng mắc về thể chế, quy định pháp luật để có nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, sát thực tiễn và khả thi. Hoàn thiện các quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền gắn với bảo đảm nguồn lực cho các bộ, ngành, địa phương trong triển khai thực hiện.
Về phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cùng với việc thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, Chính phủ tiếp tục chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, ưu tiên bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân.
Theo đó, Chính phủ kiến nghị các chỉ tiêu văn hóa, xã hội chủ yếu trong Kế hoạch năm 2026 cao hơn so với số ước thực hiện năm 2025 và tăng dần qua các năm. Trong đó, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân năm 2026 khoảng 8,5% (tăng 1,8% so với thực hiện năm 2025).
Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 29,5% (tăng 0,3% so với năm 2025). Tỷ lệ số bác sĩ, số giường bệnh, dân số tham gia bảo hiểm y tế năm 2026 cao hơn khoảng 0,2% đến 0,3% so với thực hiện năm 2025.
Cũng theo Nghị quyết, Chính phủ được yêu cầu tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ, tài khóa điều hành linh hoạt và mở rộng hợp lý, có trọng điểm.
Về đầu tư công, Quốc hội yêu cầu khắc phục các điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn ngay từ đầu 2026, nhất là với dự án quan trọng, chương trình mục tiêu quốc gia. Ngoài ra, Chính phủ cũng cần sớm đưa vào vận hành trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM, Đà Nẵng và các khu thương mại tự do thế hệ mới ở một số địa phương.
Về hạ tầng, theo Nghị quyết, Chính phủ được giao đẩy nhanh tiến độ triển khai tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP HCM. Đồng thời, giai đoạn 2 của dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành cũng cần được nghiên cứu triển khai, đảm bảo tiến độ xây dựng sân bay Gia Bình. Quốc hội cũng yêu cầu khẩn trương triển khai cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, cảng Hòn Khoai.
.png)
