Dầu vẫn chảy qua Hormuz: Lương thủy thủ tăng gấp 3, mỗi chuyến tàu tốn tới 40 triệu USD
Bất chấp xung đột quân sự căng thẳng và các đòn tập kích liên tiếp, lượng dầu xuất khẩu qua eo biển Hormuz bất ngờ phục hồi vượt mức trước chiến tranh. Đằng sau nghịch lý này là mạng lưới tàu con thoi cước phí đắt đỏ kỷ lục, những chuyến hải trình tắt định vị và nghi vấn về một khoản tiền ngầm chi trả cho Iran.
Nghịch lý phục hồi giữa làn mưa tên lửa
Bảy tháng kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran bùng nổ vào tháng 2, eo biển Hormuz – nơi từng gánh vác 1/5 lượng xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt toàn cầu – vẫn là điểm "nóng bỏng tay" trên bàn cờ địa chính trị. Các đòn phong tỏa và tấn công tàu bè của Tehran từng khiến chi phí nhiên liệu thế giới leo thang dữ dội, thử thách sức chịu đựng của ngành nông nghiệp toàn cầu.
Tuy nhiên, dữ liệu hàng hải mới nhất lại chứng minh điều ngược lại: dòng vàng đen từ Vịnh Ba Tư đang thoát ra ngoài với tốc độ nhanh nhất kể từ khi xung đột nổ ra.

Theo thống kê sơ bộ từ hãng theo dõi Kpler, xuất khẩu dầu thô khu vực đã vượt mốc trước chiến tranh trong 4 ngày vào tuần cuối tháng 9, đạt mức 19,5 đến 22,5 triệu thùng mỗi ngày. Tính trung bình 7 ngày của tuần này, lưu lượng đã chính thức vượt mốc bình quân 18 triệu thùng/ngày ghi nhận trước tháng 2 – lần đầu tiên kể từ khi tiếng súng nổ ra.
Nếu không tính nguồn dầu của Iran, xuất khẩu thô trung bình tháng 9 vẫn vững vàng ở mức ít nhất 16,5 triệu thùng mỗi ngày. Sang tháng 10, đà tăng tiếp diễn khi Công ty Vận tải Dầu mỏ Nhà nước Iraq đưa thành công siêu tàu VLCC chở 2 triệu thùng dầu vượt Hormuz an toàn, đánh dấu hoạt động đầu tiên của đơn vị này qua eo biển sau nhiều thập kỷ.
Nghi vấn 'trạm thu phí' bí mật của Tehran
Sự trỗi dậy khó tin của nguồn cung ban đầu được cho là nhờ các chiến hạm Mỹ áp tải tàu dầu ra khỏi eo biển, kết hợp phương thức chuyển tải hàng giữa các tàu ngoài khơi để hạn chế rủi ro trước tên lửa và thiết bị bay không người lái. Nhưng bà Michelle Brohard, Trưởng bộ phận chính sách và rủi ro địa chính trị tại Kpler, đã đưa ra một giả thuyết chấn động: các nước vùng Vịnh có thể đang ngầm trả "phí qua trạm" cho Iran để đổi lấy sự an toàn.
Chuyên gia này nhận định các quốc gia xuất khẩu thừa hiểu cả việc nhờ Mỹ hộ tống lẫn việc trích 10% đến 20% giá trị lô hàng cho Iran đều không phải là giải pháp bền vững. Do đó, một cuộc chạy đua vét dầu xuất xưởng càng nhiều, càng nhanh trước khi chiến sự bùng phát dữ dội trở lại đang âm thầm diễn ra.

Dù nhận định này chỉ dừng ở mức phỏng đoán chưa được xác minh độc lập, từ tháng 3 tạp chí hàng hải Lloyd’s List đã ghi nhận IRGC lập ra hệ thống kiểm soát tương tự trạm thu phí tại đây.
Phía Washington dưới thời chính quyền Tổng thống Trump luôn khẳng định sẽ không có chuyện cho phép Iran thu phí theo bất kỳ thỏa thuận nào. Dẫu vậy, hồi tháng 9, Mỹ đã trừng phạt công ty tài sản số BitBank với cáo buộc bị Cơ quan Dịch vụ Hàng hải An toàn Hormuz của Iran dùng để thu gom phí quá cảnh chuyển về Tehran.
Bình luận về vấn đề này, ông Abdul Khalique, Giám đốc Trung tâm Hàng hải Đại học Liverpool John Moores, cho rằng kịch bản trên mang tính chất một cơ chế an ninh ngầm hơn là một sắc thuế hàng hải chính thức, bởi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) bảo hộ quyền quá cảnh tự do qua các eo biển quốc tế, khiến việc thu phí chính ngạch là vô căn cứ.
Đồng quan điểm, ông Chris Beauchamp từ tập đoàn IG Group nhận định mọi thứ ở Trung Đông lúc này đều diễn ra dưới gầm bàn, từ chuyện Mỹ hộ tống cho tới việc Tehran lặng lẽ thu tiền.
Giá dầu neo cao và cơn khát tàu biển
Bất chấp nguồn cung hồi phục và nhóm G7 vừa quyết định xả 100 triệu thùng dầu từ kho dự trữ khẩn cấp, giá dầu thô thế giới chỉ hạ nhiệt nhẹ và vẫn neo cao hơn hẳn thời điểm trước chiến tranh.
Dầu Brent đầu tuần giao dịch quanh mức 101,59 USD/thùng sau khi giảm 0,71%, còn dầu WTI giảm 1,2% xuống 90,05 USD/thùng. Theo bà Susannah Streeter, Giám đốc chiến lược đầu tư tại Wealth Club, nguyên nhân nằm ở chi phí bảo hiểm duy trì ở mức cao ngất ngưởng và thị trường luôn phải cộng thêm phần bù rủi ro chiến tranh nóng bùng nổ, đặc biệt khi eo biển Hormuz vẫn là ngòi nổ nguy hiểm chưa từng hạ nhiệt.
Đáng chú ý, rào cản lớn nhất hiện tại đang dịch chuyển thành bài toán cước tàu biển. Hệ thống gom và chuyển dầu bằng tàu con thoi đòi hỏi lượng phương tiện khổng lồ, gián tiếp hút cạn nguồn cung tàu trên toàn cầu và đẩy giá cước vận tải biển lên mức chóng mặt. Khách hàng châu Á đang phải xoay xở tìm kiếm nguồn dầu từ những nơi xa xôi hơn với thời gian di chuyển kéo dài, trong bối cảnh các xưởng đóng tàu không thể xuất xưởng phương tiện mới chỉ sau một đêm.
Chuyến tàu con thoi 40 triệu USD và chi phí cao ngất cho thủy thủ đoàn
Để duy trì dòng chảy thương mại mà không đẩy khách hàng vào tầm ngắm nguy hiểm, các nhà sản xuất vùng Vịnh đang chấp nhận chi trả tới 30 đến 40 triệu USD cho mỗi chuyến khứ hồi của một siêu tàu dầu theo mô hình tàu con thoi, theo ghi nhận của The Wall Street Journal.
Các siêu tàu VLCC sẽ liều mình vượt Hormuz vào bốc hàng tại cảng nội vịnh, chạy ngược ra ngoài rồi bơm chuyển tải sang một tàu dầu khác đợi sẵn ngoài khơi để tỏa đi thị trường quốc tế. Mức cước này tương đương chi phí đội thêm từ 15 đến 20 USD trên mỗi thùng dầu trước bảo hiểm.
Nếu thuê đứt một siêu tàu chạy thẳng từ Vịnh Ba Tư sang Trung Quốc, mức phí vào cuối tháng 9 đã vượt 1,2 triệu USD mỗi ngày – một con số kỷ lục nếu so với mức 231.400 USD trước xung đột và dưới 40.000 USD hồi đầu tháng 1 theo hãng nghiên cứu Clarksons.
Nhu cầu tàu con thoi bùng nổ mạnh mẽ hơn sau khi các vụ tấn công bằng máy bay không người lái đánh sập đường ống Đông - Tây của Ả Rập Xê-út, buộc đại gia Saudi Aramco phải nhập cuộc, kéo quy mô hạm đội tàu con thoi cốt lõi từ 30 chiếc lên 39 chiếc chỉ trong một tháng theo dữ liệu của Vortexa.
Món lợi kếch xù từ các chuyến hải trình nghìn tỷ cũng kéo theo mức thù lao khủng cho thủy thủ đoàn, chủ yếu là các lao động đến từ Ấn Độ, Philippines và Trung Quốc. Lương của họ hiện tăng gấp hai đến ba lần bình thường, kèm theo mức tiền thưởng lên tới 25.000 USD cho mỗi chuyến khứ hồi được các công ty môi giới đưa ra.
Thế nhưng, đồng tiền kiếm được đi liền với rủi ro tính mạng cận kề. Cơ quan Điều hành Thương mại Hàng hải Vương quốc Anh (UKMTO) và Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) xác nhận đã có 9 tàu thương mại bị tấn công gần Hormuz chỉ trong hai tuần qua, làm hai thủy thủ bị thương và một người thiệt mạng, riêng từ ngày 28/9 đã ghi nhận 7 tàu trúng đạn.
Đầu tuần này, một tàu dầu qua eo biển tiếp tục bị lực lượng IRGC phát cảnh báo ép quay đầu nếu không muốn trở thành mục tiêu. Một thuyền phó giấu tên chia sẻ trên The Wall Street Journal rằng tàu của anh từng phải băng qua eo biển trong đêm tối mịt mù với toàn bộ đèn bị tắt, cửa sổ đóng chặt và tín hiệu GPS tê liệt suốt nhiều giờ, buộc thủy thủ đoàn phải căng mắt điều khiển tàu dựa vào radar và các mốc địa hình ven bờ.
Con đường độc đạo không thể thay thế
Hiện tại, khoảng 40% lượng dầu mỏ đã tìm cách né tránh eo biển Hormuz bằng cách chảy qua các đường ống trên bộ của Ả Rập Xê-út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) hoặc đi qua ngả Biển Đỏ. Ngoài ra, số liệu của Kpler cũng chưa thể tính toán hết những con tàu cố tình tắt thiết bị phát đáp nhận dạng tự động AIS để lẩn tránh radar quân sự.
Phía Iran kiên quyết bác bỏ việc họ đánh mất quyền kiểm soát cửa ngõ chiến lược. Chuẩn tướng Ali Fadavi của IRGC tuyên bố lượng dầu 3 đến 4 triệu thùng mỗi ngày di chuyển dưới sự giám sát của Mỹ chỉ là con số không đáng kể so với mức lưu thông thời bình, thời điểm eo biển đón tới 125 tàu thương mại lớn mỗi ngày.
Dù các tuyến đường ống đang dần được khắc phục, giới phân tích nhận định các nhà sản xuất không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gắn chặt số phận với Hormuz. Chuyên gia Anoop Singh thuộc hãng Oil Brokerage chỉ ra rằng Ả Rập Xê-út không thể tìm đâu ra đủ lượng tàu chở dầu cần thiết nếu muốn vận chuyển 3 triệu thùng mỗi ngày từ Yanbu lên kênh đào Suez rồi đi vòng quanh châu Phi sang Đông Á. Rốt cuộc, khoảng 2/3 lượng dầu của vương quốc này vẫn buộc phải đánh cược sinh mệnh vượt qua eo biển nghẹt thở này.