Hơn 617.000 doanh nghiệp bị rà soát mã số thuế: Vì sao đóng cửa nhiều năm vẫn chưa thể 'khai tử' về pháp lý?
Chiến dịch làm sạch mã số thuế không chỉ nhằm xử lý các trường hợp vi phạm mà còn cho thấy một vấn đề lớn hơn: thủ tục rút lui khỏi thị trường vẫn còn những điểm nghẽn.

Từ đầu tháng 7/2026, ngành thuế triển khai chiến dịch “Làm sạch mã số thuế – Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, tập trung rà soát 617.462 doanh nghiệp, tổ chức ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động.
Trao đổi với chúng tôi, bà Lê Yến, CEO Công ty TNHH Tư vấn thuế Hà Nội, cho rằng chiến dịch làm sạch mã số thuế không chỉ nhằm xử lý các trường hợp vi phạm mà còn cho thấy một vấn đề lớn hơn là thủ tục rút lui khỏi thị trường vẫn còn những điểm nghẽn. Do đó, bên cạnh xử lý nghiêm hành vi lợi dụng pháp nhân, mua bán hóa đơn hay cố tình bỏ địa chỉ, cần có một quy trình rõ ràng để những doanh nghiệp thực sự muốn giải thể có thể hoàn tất nghĩa vụ và “ra khỏi thị trường” đúng pháp luật.

Thưa bà, ngành thuế đang tập trung rà soát hơn 617.000 doanh nghiệp, tổ chức. Con số này đang tạo ra nhiều ý kiến trái chiều trong cộng đồng. Dưới góc độ là chuyên gia trong lĩnh vực thuế, bà đánh giá như thế nào về điều này?
Bà Lê Yến: Ngày 13/7/2026, Cục Thuế ban hành Công điện số 18/CĐ-CT, yêu cầu cơ quan thuế các tỉnh, thành phố tập trung nguồn lực triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế – Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”.
Theo Công điện, có 617.462 doanh nghiệp thuộc diện xử lý, gồm 291.962 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục giải thể và 325.500 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, có nợ thuế. Con số này cho thấy hàng trăm nghìn doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trên thực tế nhưng vẫn tồn tại trên hệ thống đăng ký kinh doanh và quản lý thuế.
Có thể nói, nhiều doanh nghiệp đã “chết” nhưng chưa được “khai tử” về mặt pháp lý. Tuy nhiên, cần nhìn nhận đúng rằng 617.462 doanh nghiệp này không phải tất cả đều là doanh nghiệp bỏ trốn, gian lận hay cố tình chây ì nghĩa vụ thuế. Mỗi nhóm có tình trạng pháp lý, nguyên nhân và hướng xử lý khác nhau.
Theo danh mục trạng thái mã số thuế tại Phụ lục I ban hành kèm Thông tư số 86/2024/TT-BTC, doanh nghiệp ngừng hoặc gián đoạn hoạt động có thể được phân loại theo nhiều trạng thái. Trong đó, ba trạng thái thường được nhắc tới là 03, 05 và 06.
Trạng thái 03 là người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Đây là nhóm phù hợp nhất với cách nói doanh nghiệp đã “chết” trên thực tế nhưng chưa được “khai tử” về mặt pháp lý.
Doanh nghiệp có thể đã ngừng kinh doanh, không còn doanh thu và nhân sự, nhưng vẫn còn thiếu hồ sơ khai thuế, chưa nộp báo cáo tài chính, còn nợ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt hoặc chưa hoàn thành việc xử lý hóa đơn, tài sản, công nợ và các đơn vị phụ thuộc.

Trong khi đó, trạng thái 05 là người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh có thời hạn. Đây là trạng thái hợp pháp khi doanh nghiệp đã thực hiện thủ tục thông báo tạm ngừng theo quy định. Doanh nghiệp ở trạng thái này chưa “chết”, không phải đang giải thể và vẫn có thể quay lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng.
Còn trạng thái 06 là người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Đây là nhóm có mức độ rủi ro cao hơn bởi cơ quan thuế không xác minh được sự hiện diện của doanh nghiệp tại trụ sở đã đăng ký. Nguyên nhân có thể do doanh nghiệp đã chuyển đi nhưng chưa cập nhật địa chỉ, không treo biển hiệu, không còn thuê trụ sở, không liên hệ được với người đại diện hoặc thực tế đã ngừng hoạt động mà không thông báo.
Vì vậy, không nên đánh đồng doanh nghiệp tạm ngừng hợp pháp với doanh nghiệp bỏ địa chỉ hoặc doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất nghĩa vụ thuế.
Vì sao nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng mã số thuế vẫn còn “sống”, thưa bà?
Bà Lê Yến: Một nhận thức khá phổ biến của các chủ doanh nghiệp là khi không còn bán hàng, không xuất hóa đơn và đã đóng cửa văn phòng thì doanh nghiệp coi như đã chấm dứt.
Tuy nhiên, ngừng hoạt động trên thực tế không đồng nghĩa với chấm dứt tồn tại về mặt pháp lý. Doanh nghiệp chỉ thực sự kết thúc hoạt động sau khi hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ với người lao động, đối tác, cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh.
Qua thực tế tư vấn, chúng tôi nhận thấy nhiều doanh nghiệp bị “treo” trong nhiều năm vì không còn kế toán, thất lạc chứng từ, chữ ký số hết hạn, người đại diện đã thay đổi nơi cư trú hoặc không còn nguồn tài chính để hoàn thiện hồ sơ. Một số doanh nghiệp còn chi nhánh, địa điểm kinh doanh chưa chấm dứt; có hàng tồn kho, tài sản, công nợ hoặc hóa đơn điện tử chưa xử lý.

Cũng có trường hợp chủ doanh nghiệp cho rằng công ty không phát sinh doanh thu thì không cần nộp hồ sơ khai thuế. Đến khi thực hiện giải thể mới phát hiện còn thiếu nhiều kỳ kê khai, báo cáo tài chính và phát sinh tiền phạt chậm nộp hồ sơ.
Càng để lâu, việc hoàn thiện hồ sơ càng khó. Sổ sách có thể bị thất lạc, nhân sự cũ không còn làm việc, đối tác không còn tồn tại và người đại diện không nhớ đầy đủ các giao dịch trước đây. Doanh nghiệp vì vậy rơi vào vòng luẩn quẩn: muốn giải thể nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế; muốn hoàn thành nghĩa vụ thuế nhưng không còn đủ hồ sơ và nguồn lực.
Một số doanh nghiệp cho rằng Công điện số 18 tạo ra một nghĩa vụ thuế mới đối với doanh nghiệp. Vậy, cách hiểu này có đúng không, thưa bà?
Bà Lê Yến: Không. Công điện số 18/CĐ-CT là văn bản chỉ đạo cơ quan thuế tổ chức rà soát, phân loại và xử lý người nộp thuế, không tự đặt ra một loại thuế hoặc nghĩa vụ thuế mới cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, Công điện cho thấy việc xử lý sẽ được triển khai quyết liệt hơn, trên cơ sở danh sách cụ thể và có sự phối hợp giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan công an và chính quyền địa phương.
Đối với doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành giải thể, cơ quan thuế sẽ thông báo, yêu cầu hoàn thành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và thực hiện thủ tục chấm dứt hoạt động.
Đối với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký và có nợ thuế, trường hợp đã ngừng kinh doanh từ một năm trở lên mà không thông báo, cơ quan thuế có thể đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh xử lý vi phạm, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu đủ điều kiện theo quy định. Danh sách doanh nghiệp thuộc diện ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký cũng được công khai theo quy định.
Vậy, theo bà, doanh nghiệp cần làm gì ngay lúc này để tránh bị động?
Bà Lê Yến: Trước hết, doanh nghiệp cần tra cứu tình trạng pháp lý trên hệ thống đăng ký doanh nghiệp và trạng thái mã số thuế trên hệ thống của cơ quan thuế.
Doanh nghiệp cần xác định rõ mình đang ở trạng thái 03, 05, 06 hay một trạng thái khác; nguyên nhân bị chuyển trạng thái, thời điểm chuyển trạng thái và những nghĩa vụ còn tồn tại.
Tiếp theo, cần rà soát toàn bộ hồ sơ thuế, gồm các kỳ khai thuế còn thiếu; báo cáo tài chính chưa nộp; thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN và lệ phí môn bài; tiền thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt còn nợ; tình trạng sử dụng hóa đơn điện tử; các quyết định, thông báo và yêu cầu giải trình; nghĩa vụ của chi nhánh, địa điểm kinh doanh và đơn vị phụ thuộc.
Sau khi rà soát, doanh nghiệp phải xác định dứt khoát một trong hai phương án: tiếp tục hoạt động hoặc chấm dứt hoạt động.

Nếu tiếp tục kinh doanh, doanh nghiệp cần khắc phục ngay vi phạm về địa chỉ, bổ sung hồ sơ còn thiếu, xử lý các khoản nợ và đề nghị cơ quan thuế xác minh, cập nhật lại trạng thái mã số thuế. Trường hợp đã chuyển trụ sở, phải thực hiện đăng ký thay đổi địa chỉ, không nên tiếp tục sử dụng địa chỉ cũ chỉ để duy trì hồ sơ pháp lý.
Nếu không còn nhu cầu hoạt động, doanh nghiệp cần lập kế hoạch giải thể bài bản, từ chấm dứt chi nhánh, địa điểm kinh doanh; xử lý người lao động và bảo hiểm xã hội; thu hồi công nợ; thanh toán nghĩa vụ với đối tác; xử lý tài sản, hàng tồn kho và hóa đơn; hoàn thiện sổ sách, hồ sơ thuế, sau đó thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế và giải thể tại cơ quan đăng ký kinh doanh.
Đặc biệt, doanh nghiệp không nên cho rằng khi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bị thu hồi thì các khoản nợ thuế, tiền phạt và trách nhiệm liên quan sẽ tự động được xóa. Thu hồi giấy đăng ký không đồng nghĩa với xóa nghĩa vụ đã phát sinh.

Nhiều doanh nghiệp lo ngại, chiến dịch này có ảnh hưởng tới những doanh nghiệp đang hoạt động bình thường, điều này có đúng không, thưa bà?
Bà Lê Yến: Có. Những doanh nghiệp đang hoạt động bình thường cũng cần rà soát lại nhà cung cấp và các hóa đơn đầu vào.
Nếu nhà cung cấp bị xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, doanh nghiệp mua hàng có thể được yêu cầu chứng minh giao dịch thực tế bằng hợp đồng, biên bản giao nhận, nghiệm thu, chứng từ vận chuyển, phiếu nhập kho, chứng từ thanh toán và các tài liệu liên quan.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng việc nhà cung cấp chuyển sang trạng thái 06 không tự động đồng nghĩa với việc tất cả hóa đơn đã phát hành trước đó đều bất hợp pháp. Việc đánh giá cần căn cứ vào thời điểm lập hóa đơn, tình trạng của người bán tại thời điểm giao dịch và hồ sơ chứng minh hàng hóa, dịch vụ thực tế.
Nếu doanh nghiệp mua hàng không có đủ tài liệu chứng minh, rủi ro về khấu trừ thuế GTGT và tính chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN sẽ gia tăng.
Vì vậy, doanh nghiệp không nên chỉ kiểm tra hóa đơn có mã của cơ quan thuế mà cần kiểm tra cả tính có thật của giao dịch và trạng thái hoạt động của nhà cung cấp.
Nhìn rộng hơn, theo bà, chiến dịch làm sạch mã số thuế cần được đánh giá bằng những tiêu chí nào?
Bà Lê Yến: Việc làm sạch dữ liệu là cần thiết nhằm loại bỏ các mã số thuế “treo”, ngăn chặn tình trạng lợi dụng pháp nhân để mua bán hóa đơn, xác định đúng số lượng doanh nghiệp đang hoạt động thực tế và bảo vệ những doanh nghiệp kinh doanh chân chính.
Doanh nghiệp không thể tự coi mình đã chấm dứt chỉ bằng việc đóng cửa và ngừng kinh doanh. Ngược lại, cơ quan quản lý cũng cần phân loại đúng để không đánh đồng doanh nghiệp tạm ngừng hợp pháp, doanh nghiệp giải thể dở dang và doanh nghiệp cố tình bỏ địa chỉ.

Chiến dịch chỉ thực sự đạt mục tiêu khi vừa xử lý nghiêm hành vi vi phạm, vừa giúp những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động hoàn thành nghĩa vụ và được “khai tử” đúng pháp luật.
Vì vậy, hiệu quả của chiến dịch không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng mã số thuế bị đóng hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bị thu hồi. Điều quan trọng hơn là dữ liệu phải chính xác, doanh nghiệp phải được phân loại đúng và những trường hợp có nhu cầu khắc phục phải có cơ chế xử lý rõ ràng.
Bà cho rằng cần thay đổi gì để doanh nghiệp có thể rút lui khỏi thị trường thuận lợi hơn?
Bà Lê Yến: Con số 617.462 doanh nghiệp phản ánh hai vấn đề cần được nhìn nhận song song. Một mặt, ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp vẫn chưa đầy đủ, còn tình trạng doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết, thậm chí có trường hợp lợi dụng pháp nhân để thực hiện các hành vi vi phạm. Mặt khác, cũng cần nhìn nhận rằng thủ tục rút lui khỏi thị trường hiện nay vẫn còn những điểm nghẽn nhất định, khiến không ít doanh nghiệp dù đã thực sự dừng hoạt động nhưng vẫn chưa thể hoàn tất quá trình giải thể, chấm dứt nghĩa vụ với cơ quan quản lý.
Theo tôi, trước hết cần phân loại rõ các trường hợp doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Với những trường hợp lợi dụng pháp nhân, mua bán hóa đơn, cố tình bỏ địa chỉ kinh doanh, không thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc có dấu hiệu trốn tránh trách nhiệm, cơ quan quản lý cần xử lý nghiêm để bảo đảm tính minh bạch và kỷ luật của môi trường kinh doanh. Không thể vì tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà bỏ qua những trường hợp cố tình vi phạm.
Tuy nhiên, bên cạnh nhóm doanh nghiệp vi phạm, còn một nhóm rất khác là những doanh nghiệp nhỏ đã thực sự ngừng hoạt động do khó khăn trong kinh doanh, không còn phát sinh hoạt động, không có giao dịch mới và không có ý định tiếp tục kinh doanh nhưng lại gặp khó khăn trong việc hoàn tất thủ tục giải thể. Với nhóm này, cách tiếp cận nên khác. Cần có một quy trình rõ ràng, dễ thực hiện, có thời hạn xử lý cụ thể và tương xứng với mức độ rủi ro của doanh nghiệp.

Đặc biệt, không nên áp dụng cùng một cách thức quản lý đối với tất cả doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, không còn hoạt động, không phát sinh nghĩa vụ và chủ động làm thủ tục rút lui rõ ràng cần được xử lý theo một quy trình đơn giản hơn so với doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro về thuế, hóa đơn hoặc các nghĩa vụ khác. Nếu phân loại được theo mức độ rủi ro thì cơ quan quản lý vừa có thể tập trung nguồn lực vào những trường hợp cần kiểm tra, vừa giảm được chi phí và thời gian cho những doanh nghiệp thực sự muốn rút lui một cách hợp pháp.
Tôi cho rằng đây cũng là vấn đề cần được nhìn nhận từ góc độ môi trường kinh doanh. Khi một doanh nghiệp không còn khả năng hoặc không còn nhu cầu tiếp tục hoạt động, việc để doanh nghiệp đó rút lui một cách có trật tự cũng quan trọng không kém việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Nếu thủ tục gia nhập được cải cách nhưng thủ tục rút lui vẫn phức tạp, doanh nghiệp có thể phát sinh thêm chi phí, thời gian và tâm lý e ngại khi quyết định chấm dứt hoạt động.
Một điểm nữa rất quan trọng là chất lượng dữ liệu quản lý và việc công khai thông tin doanh nghiệp. Khi cơ quan quản lý công khai danh sách doanh nghiệp có vấn đề về địa chỉ, nghĩa vụ thuế hoặc tình trạng hoạt động, dữ liệu phải được kiểm tra và cập nhật thường xuyên. Cần có cơ chế để doanh nghiệp phản hồi, giải trình và đề nghị điều chỉnh khi thông tin đã thay đổi hoặc khi doanh nghiệp đã khắc phục vấn đề.
Không nên để một sai lệch dữ liệu kéo dài quá lâu. Trong thực tế, thông tin về tình trạng doanh nghiệp có thể liên quan đến rất nhiều hoạt động khác, từ quan hệ với ngân hàng, đối tác, khách hàng cho đến khả năng thực hiện các giao dịch kinh doanh. Nếu doanh nghiệp đã khắc phục nhưng thông tin vẫn được duy trì theo tình trạng cũ, điều đó có thể ảnh hưởng đến uy tín và tạo ra những hệ quả không đáng có đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Vì vậy, cùng với việc tăng cường quản lý và xử lý nghiêm các hành vi cố tình vi phạm, tôi cho rằng cần thiết kế một cơ chế rút lui khỏi thị trường minh bạch, rõ ràng và thuận lợi hơn đối với những doanh nghiệp thực sự không còn hoạt động. Quy trình càng rõ thì doanh nghiệp càng biết mình phải làm gì, cơ quan quản lý cũng dễ xác định trách nhiệm và thời hạn xử lý. Quan trọng hơn, điều này giúp phân biệt rõ doanh nghiệp thực sự muốn rút lui hợp pháp với những trường hợp cố tình bỏ lại nghĩa vụ phía sau.
Một môi trường kinh doanh lành mạnh không chỉ cần một cánh cửa gia nhập thị trường thuận tiện mà còn phải có một lối ra minh bạch, có trật tự và phù hợp. Doanh nghiệp cần biết rằng nếu hoạt động không hiệu quả và muốn dừng lại, họ vẫn có thể rút lui theo một quy trình rõ ràng, hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ và khép lại hoạt động kinh doanh một cách chính thức, thay vì để tình trạng doanh nghiệp kéo dài trong trạng thái không hoạt động nhưng cũng không thể hoàn tất thủ tục chấm dứt.
Trân trọng cảm ơn bà!