Mỹ áp thuế 12,5%: Lãnh đạo HANOISME chỉ cách để doanh nghiệp giữ đơn hàng thay vì lao vào cuộc đua giảm giá
Theo GS.TS. Mạc Quốc Anh, doanh nghiệp Việt sẽ khó giữ được thị phần tại Hoa Kỳ nếu chỉ coi mức thuế 12,5% là một khoản chi phí. Thách thức lớn hơn nằm ở việc thương mại toàn cầu đang bước sang một "luật chơi" mới, nơi minh bạch chuỗi cung ứng trở thành điều kiện để được cạnh tranh.

Trong bối cảnh Hoa Kỳ áp mặt bằng thuế mới đối với hàng hóa từ 60 nền kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đang đứng trước áp lực phải thích ứng với những thay đổi của "luật chơi" thương mại.
Với vai trò Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV TP. Hà Nội, GS.TS. Mạc Quốc Anh đã chia sẻ với chúng tôi những đánh giá về tác động của chính sách thuế mới, đồng thời gợi mở các hướng đi để doanh nghiệp giữ năng lực cạnh tranh và hạn chế nguy cơ mất đơn hàng tại thị trường Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ vừa áp mặt bằng thuế mới đối với hàng hóa từ 60 nền kinh tế. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn nhận động thái này như một rủi ro ngắn hạn hay là sự thay đổi lâu dài của "luật chơi" thương mại?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Theo tôi, đây không phải một rủi ro ngắn hạn mà là sự thay đổi lâu dài của "luật chơi" thương mại toàn cầu.
Điều đáng chú ý không nằm ở mức thuế 12,5%, mà ở việc Hoa Kỳ đang gắn quyền tiếp cận thị trường với khả năng doanh nghiệp chứng minh chuỗi cung ứng đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động, xuất xứ và minh bạch. Tuân thủ không còn là thủ tục, mà đã trở thành năng lực cạnh tranh.
Ngay cả khi Việt Nam đàm phán được mức thuế 10%, các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống lao động cưỡng bức, chống chuyển tải bất hợp pháp hay minh bạch chuỗi cung ứng vẫn không thay đổi. Điều đó cho thấy đây là sự tái định hình quan hệ thương mại chứ không phải một biện pháp nhất thời.
Theo tôi, doanh nghiệp cần làm ngay ba việc. Thứ nhất, rà soát chính xác mức độ ảnh hưởng của từng mặt hàng, từng hợp đồng thay vì nhìn vào một con số thuế bình quân. Thứ hai, xây dựng hệ thống quản trị và dữ liệu để sẵn sàng chứng minh nguồn gốc, lao động và chuỗi cung ứng khi đối tác yêu cầu. Thứ ba, giảm phụ thuộc vào một thị trường, một khách hàng và tận dụng các FTA để đa dạng hóa đầu ra.
Việt Nam đã có Nghị định 292/2026/NĐ-CP cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Đây là bước đi tích cực, nhưng điều quan trọng hơn là phải thực thi hiệu quả và chứng minh được với đối tác.
Mức thuế có thể thay đổi qua đàm phán, nhưng "luật chơi" về chuỗi cung ứng minh bạch sẽ còn tồn tại lâu dài. Doanh nghiệp nào coi tuân thủ là lợi thế cạnh tranh sẽ là những người có cơ hội đi xa hơn.

Nếu không thể đàm phán để được đưa về nhóm thuế 10%, theo ông doanh nghiệp Việt Nam sẽ mất lợi thế cạnh tranh ở mức nào? Ngành nào sẽ "đau" đầu tiên và ngành nào có nguy cơ bị thay thế nhanh nhất?
Trước hết phải phân biệt hai cách đo tác động. So với trạng thái không có thuế Mục 301, hàng thuộc phạm vi điều chỉnh của Việt Nam phải gánh thêm 12,5%. Nhưng so với mức thuế tạm thời 10% được áp dụng ngay trước đó, cú tăng cận biên là 2,5 điểm phần trăm.
Nhiều đối thủ như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Bangladesh, Campuchia, Ecuador và Mexico nằm trong nhóm 10%. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam vừa chịu áp lực tuyệt đối 12,5% trên hàng thuộc diện chịu thuế, vừa bất lợi tương đối khoảng 2,5 điểm phần trăm so với một số nguồn cung cạnh tranh trực tiếp lợi thế không thể tính đơn giản là 12,5% doanh thu.
Với ngành có thương hiệu, công nghệ riêng và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp cao, doanh nghiệp có thể chia sẻ được gánh nặng. Với sản phẩm tiêu chuẩn hóa, biên lợi nhuận chỉ vài phần trăm, chênh lệch 2,5 điểm phần trăm cũng đủ làm thay đổi quyết định đặt hàng.
Theo kịch bản phân tích của tôi, nếu doanh nghiệp phải hấp thụ một nửa mức thuế 12,5%, biên lợi nhuận gộp có thể giảm hơn 6 điểm phần trăm. Với doanh nghiệp có biên lợi nhuận 5-8%, đây không còn là giảm lãi mà là chuyển sang thua lỗ. Trong 6-12 tháng, nhóm hàng nhạy cảm về giá có thể mất khoảng 5-12% đơn hàng; doanh nghiệp phụ thuộc một khách hàng lớn, không có thương hiệu và không chứng minh được chuỗi cung ứng có thể mất 15-25%. Đây là kịch bản phân tích, không phải dự báo chính thức.
Ngành “đau” đầu tiên là thủy sản, đặc biệt tôm, cá và hàng chế biến có mức độ thay thế cao. VASEP lưu ý thủy sản Việt Nam về nguyên tắc vẫn chịu thêm 12,5%, trong khi các đối thủ đáng chú ý như Ấn Độ, Ecuador và Indonesia chịu 10%. Chênh lệch 2,5 điểm phần trăm cộng với thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp hiện hữu có thể khiến nhà nhập khẩu chuyển đơn hàng nhanh.
Tiếp theo là dệt may, da giày, đồ gỗ và nội thất. Đây là các ngành thâm dụng lao động, cạnh tranh mạnh về giá và thời gian giao hàng. Các đối thủ Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia và Malaysia đang có mức 10%, nên đơn hàng gia công cơ bản có thể dịch chuyển. Hoa Kỳ cũng thiết kế cơ chế riêng cho dệt may, cho phép một lượng hàng nhất định hưởng mức thuế thấp hơn tùy theo việc sử dụng bông và đầu vào dệt có xuất xứ Hoa Kỳ.
Điều này tạo cơ hội tái cấu trúc nguyên liệu, nhưng cũng làm cạnh tranh phức tạp hơn nguy cơ bị thay thế nhanh nhất không nhất thiết là ngành có kim ngạch lớn nhất, mà là phân khúc có chi phí chuyển đổi nhà cung cấp thấp nhất: may gia công đơn giản, giày phổ thông, đồ gỗ theo mẫu chuẩn, thủy sản đông lạnh chưa chế biến sâu, túi xách và sản phẩm tiêu dùng không có thương hiệu. Nhà mua hàng có thể chuyển sau một hoặc hai chu kỳ đơn hàng.
Ngược lại, điện tử, thiết bị phức tạp có thể chịu tác động chậm hơn, vì chuyển nhà máy đòi hỏi vốn lớn, kiểm định chất lượng và tái chứng nhận. Tuy nhiên, nếu chênh lệch thuế kéo dài 18-36 tháng, các quyết định đầu tư mới có thể dịch chuyển sang quốc gia được hưởng mức thấp hơn.
Như vậy, phần dễ mất nhất là lợi thế “giá rẻ”; phần có thể giữ được là năng suất, độ tin cậy, tốc độ giao hàng, khả năng truy xuất và năng lực đồng thiết kế. Mục tiêu không chỉ là đàm phán xuống 10%, mà phải làm cho chênh lệch 2,5 điểm phần trăm không đủ lớn để khách hàng rời Việt Nam.
98% DNNVV Việt Nam vốn mỏng, thiếu nhân sự pháp lý và phụ thuộc khách lớn. Với mức thuế 12,5% này, ông dự báo trong 6-12 tháng tới, bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp nhỏ sẽ phải đóng cửa hoặc bị gạt văng khỏi chuỗi cung ứng của Mỹ?
Đưa ra dự báo có trách nhiệm cho 6-12 tháng tới, tôi đề xuất ba lớp kịch bản:
-Thứ nhất, tính trên toàn bộ DNNVV đang hoạt động, tỷ lệ phải tạm ngừng hoặc đóng cửa mà cú sốc thuế Hoa Kỳ là một nguyên nhân quan trọng có thể khoảng 0,5-1%.
-Thứ hai, trong nhóm DNNVV trực tiếp xuất khẩu sang Hoa Kỳ hoặc phụ thuộc đáng kể vào đơn hàng Hoa Kỳ, khoảng 8-12% có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng, thu hẹp nghiêm trọng hoặc tạm dừng hoạt động trong kịch bản cơ sở. Trong kịch bản xấu, tỷ lệ này có thể tăng lên 15-20%.

-Thứ ba, với nhóm rủi ro rất cao - trên 50% doanh thu phụ thuộc thị trường Hoa Kỳ, biên lợi nhuận dưới 8%, chỉ có một hoặc hai khách hàng lớn, nguyên liệu khó truy xuất - tỷ lệ rời chuỗi có thể lên tới 20-30%. Đây là dải kịch bản phân tích, không phải số liệu điều tra đã được kiểm chứng.
Tác động cũng không xuất hiện ngay. Trong ba tháng đầu, doanh nghiệp còn đơn hàng đã ký. Từ tháng thứ 3 - 6, khách hàng bắt đầu đấu thầu lại, yêu cầu giảm giá hoặc chuyển một phần đơn hàng sang các nước chịu mức 10%. Từ tháng thứ 6 - 12, áp lực thể hiện qua tồn kho, thiếu vốn, giảm lao động và mất khả năng đáp ứng đơn hàng.

Khi đơn hàng Mỹ sụt giảm, hiệu ứng dây chuyền nợ nần và thiếu việc làm sẽ lan sang các doanh nghiệp bao bì, logistics, nguyên phụ liệu ra sao? Hiệp hội có giải pháp trợ lực nào cho tầng nấc “ngấm đòn” gián tiếp này chưa?
Riêng sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt khoảng 86,5 tỷ USD. Một đơn hàng bị cắt vì vậy sẽ làm thiệt hại lan ngược qua cả hệ sinh thái cung ứng.
Trước hết là cú sốc doanh thu. Nhà máy xuất khẩu giảm sản lượng sẽ cắt đơn mua thùng carton, màng nhựa, pallet, nhãn mác, sợi, vải, da, hóa chất, vận tải và kho lạnh. Bộ Công Thương cũng cảnh báo xuất khẩu giảm có thể kéo nhu cầu logistics đi xuống, trong khi chi phí dịch vụ vẫn cao và sự bất định làm doanh nghiệp khó lập kế hoạch đầu tư.
Tiếp đó là cú sốc dòng tiền. Nhà cung cấp nhỏ thường giao hàng trước, nhận tiền sau 30-90 ngày. Khi doanh nghiệp đầu chuỗi bị khách hàng Hoa Kỳ hoãn thanh toán, yêu cầu giảm giá hoặc hủy đơn, họ có xu hướng kéo dài công nợ với nhà cung cấp trong nước. Một doanh nghiệp bao bì không xuất khẩu trực tiếp vẫn có thể chịu tác động qua nợ phải thu, tồn kho và khoản vay ngắn hạn.
Cuối cùng là cú sốc việc làm. Doanh nghiệp phụ trợ thường giảm ca, dừng làm thêm, cắt lao động thời vụ rồi mới thu hẹp lao động chính thức. ILO cho biết hơn 76% việc làm liên quan chuỗi cung ứng toàn cầu của Việt Nam phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhu cầu từ ASEAN, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ. Suy giảm cầu bên ngoài vì vậy có thể nhanh chóng chuyển thành giảm thu nhập và gia tăng áp lực nợ hộ gia đình.

Giải pháp không thể chỉ cứu doanh nghiệp đứng tên trên tờ khai xuất khẩu. Từ phía Hiệp hội, tôi cho rằng cần triển khai một “gói ổn định chuỗi cung ứng” theo năm hướng.
-Một là, lập bản đồ doanh nghiệp chịu tác động gián tiếp theo ngành và khách hàng đầu chuỗi; cảnh báo sớm trường hợp công nợ quá hạn, tồn kho tăng hoặc công suất giảm mạnh.
-Hai là, thúc đẩy tài trợ chuỗi cung ứng. Ngân hàng cần xem xét cho vay dựa trên đơn hàng, hóa đơn được doanh nghiệp đầu chuỗi xác nhận và lịch sử giao dịch, thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp; đồng thời có hạn mức quay vòng và cơ cấu nợ có điều kiện cho nhà cung cấp còn đơn hàng thực.
-Ba là, xây dựng nguyên tắc chia sẻ rủi ro: doanh nghiệp lớn không nên đơn phương kéo dài thanh toán hoặc chuyển toàn bộ chi phí thuế xuống nhà cung cấp nhỏ; cần đàm phán lại giá, sản lượng và tiến độ để cùng tồn tại.
-Bốn là, hình thành “sàn điều phối công suất”, kết nối doanh nghiệp bao bì, logistics, nguyên liệu đang dư công suất với đơn hàng nội địa, EVFTA, CPTPP và hệ thống bán lẻ.
-Năm là, phối hợp đào tạo lại lao động, hỗ trợ chuyển ca, chuyển việc và duy trì an sinh trong giai đoạn tái cơ cấu.

Sự thật là đối thủ cạnh tranh như Campuchia, Indonesia hay Bangladesh đang có lợi thế thuế hơn Việt Nam khi được áp mức 10%. Theo ông, DNNVV nên làm gì trước tiên để không bị mất đơn hàng ngay trong những tháng tới?
DNNVV không nên giảm giá bằng mọi giá, mà phải giành lại quyền chủ động với khách hàng. Việt Nam chịu mức thuế bổ sung 12,5% đối với hàng hóa thuộc phạm vi áp dụng, trong khi Bangladesh, Campuchia và Indonesia thuộc nhóm 10%. Chênh lệch 2,5 điểm phần trăm có thể quyết định đơn hàng ở các ngành biên lợi nhuận thấp và dễ thay thế nhà cung cấp như may gia công, giày phổ thông, đồ gỗ theo mẫu, thủy sản đông lạnh.
Trong 30 ngày đầu, doanh nghiệp cần lập một “phòng tác chiến đơn hàng” với bốn việc cụ thể.
-Thứ nhất, tính lại lợi nhuận đến từng mã hàng, khách hàng và điều kiện giao hàng. Phải xác định mã HTSUS nào chịu thuế, sản phẩm nào được miễn, ai là người nhập khẩu chịu nghĩa vụ thuế, hợp đồng phân bổ chi phí ra sao và mức giảm giá tối đa có thể chấp nhận. Không được dùng một tỷ lệ bình quân cho toàn bộ danh mục. USTR đã quy định các diện miễn trừ và trường hợp chuyển tiếp cụ thể, nên rà soát từng mã hàng là yêu cầu đầu tiên.
-Thứ hai, chủ động gặp khách hàng trước khi họ tìm nguồn cung khác. Doanh nghiệp nên đưa ra ba phương án: cùng phân bổ phần thuế trong một thời hạn; chuyển sang dòng sản phẩm có biên lợi nhuận cao hơn; hoặc cam kết cải thiện năng suất, thời gian giao hàng và tồn kho tại Hoa Kỳ để bù chênh lệch thuế. Khách hàng quốc tế còn mua sự ổn định, chất lượng và khả năng truy xuất.
-Thứ ba, khóa chặt rủi ro tuân thủ. Biện pháp của Hoa Kỳ được áp dụng trong khuôn khổ điều tra về cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ về nguyên liệu, nhà cung cấp cấp hai, tiền lương, giờ làm, tuyển dụng, vận chuyển và xuất xứ. Một “hộ chiếu tuân thủ” đầy đủ có thể là lý do để khách hàng giữ nhà cung cấp Việt Nam thay vì chuyển sang nguồn rẻ hơn nhưng rủi ro pháp lý cao hơn.
-Thứ tư, bảo vệ dòng tiền. Doanh nghiệp cần thương lượng giảm quy mô lô hàng nhưng tăng tần suất giao; hạn chế sản xuất tồn kho; rà soát khách hàng có nguy cơ chậm thanh toán và làm việc sớm với ngân hàng về vốn lưu động. Không nên vay thêm chỉ để duy trì một đơn hàng đã mất lợi nhuận.
Trong 60-90 ngày tiếp theo, DNNVV phải tái cấu trúc lợi thế cạnh tranh. Việt Nam không thể thắng Bangladesh hoặc Campuchia bằng cách lao sâu hơn vào gia công giá rẻ. Doanh nghiệp cần chuyển dần sang thiết kế, đóng gói, giao hàng nhanh, sản xuất lô nhỏ, sản phẩm xanh và dịch vụ hậu mãi. Đối với dệt may, cơ chế Hoa Kỳ còn mở khả năng ưu đãi một lượng hàng gắn với việc sử dụng đầu vào dệt của Hoa Kỳ; doanh nghiệp cần tính toán thay đổi nguồn nguyên liệu khi lợi ích tổng thể lớn hơn chi phí.
Đồng thời, mỗi doanh nghiệp phải có “khách hàng số hai”. Có thể thử nghiệm từng dòng sản phẩm sang EU, Nhật Bản, Canada, Australia hoặc Trung Đông.
Đa dạng hóa thị trường sang EVFTA, CPTPP hay Trung Đông là bài toán được nói nhiều năm nay nhưng chuyển biến còn chậm. Theo ông, đâu là nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự dịch chuyển?
Theo tôi, nguyên nhân căn bản là chúng ta thường hiểu đa dạng hóa thị trường như việc “tìm thêm người mua”, trong khi thực chất đó là cuộc tái cấu trúc sản phẩm, tiêu chuẩn, chuỗi cung ứng, vốn và quản trị.
-Thứ nhất, doanh nghiệp bị khóa vào khách hàng cũ. Chuyển sang EU hoặc CPTPP có thể phải chia nhỏ đơn hàng, đổi thiết kế, bao bì, tiêu chuẩn môi trường và dịch vụ sau bán hàng. Chi phí phát sinh ngay, còn doanh thu mới đến chậm, nên doanh nghiệp vốn mỏng tiếp tục phụ thuộc.
-Thứ hai, năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ còn hạn chế. Tỷ lệ hàng hóa sử dụng C/O ưu đãi EVFTA đã tăng từ 14,8% năm 2020 lên 35,1% năm 2025; nhưng với CPTPP, giá trị hàng hóa được cấp C/O năm 2024 mới khoảng 5 tỷ USD, tương đương 8,8%. Nhiều ngành còn phụ thuộc nguyên liệu ngoài khối; riêng dệt may gặp quy tắc “từ sợi”.

-Thứ ba, doanh nghiệp thiếu năng lực thâm nhập thị trường, không chỉ thiếu thông tin. Biết EU có nhu cầu không đồng nghĩa với vào được hệ thống phân phối EU. Doanh nghiệp cần nhân sự bán hàng quốc tế, pháp lý hợp đồng, chứng nhận, nhãn hiệu, đại lý địa phương và ngân sách tiếp thị dài hạn.
-Thứ tư, sản phẩm vẫn nặng gia công và giá trị gia tăng thấp. Bộ Công Thương đánh giá xuất khẩu Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, nguyên liệu nhập khẩu, năng lực thương hiệu và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn cao. Khi không sở hữu thương hiệu và thiết kế, doanh nghiệp không tự quyết được thị trường, quyền điều phối đơn hàng nằm trong tay nhà mua hàng nước ngoài.
-Thứ năm, Trung Đông không phải một thị trường đồng nhất và Halal không chỉ là giấy chứng nhận. Doanh nghiệp phải kiểm soát nguyên liệu, nhà máy, kho bãi, vận chuyển, truy xuất và sự công nhận của tổ chức chứng nhận tại từng nước. Bộ Công Thương đã chỉ ra các nút thắt về tiêu chuẩn, chứng nhận, logistics và hệ sinh thái hỗ trợ.
-Cuối cùng, chính sách hỗ trợ còn phân tán. Xúc tiến thương mại, tín dụng, tiêu chuẩn, logistics, bảo hiểm xuất khẩu và dữ liệu thị trường chưa được đóng gói thành một hành trình trọn gói. DNNVV vẫn phải tự tìm chứng nhận, thuê luật sư, kiểm tra đối tác và chịu rủi ro công nợ.
Muốn chuyển biến thực chất, cần thay khẩu hiệu “đa dạng hóa thị trường” bằng chương trình “đa dạng hóa có đơn hàng”. Mỗi ngành nên chọn ba đến năm sản phẩm có lợi thế, hai thị trường mục tiêu và một nhóm nhà mua hàng cụ thể; hỗ trợ từ cải tiến sản phẩm, chứng nhận, C/O, thẩm định đối tác đến tín dụng đơn hàng và logistics dùng chung.
Doanh nghiệp cũng không nên chuyển thị trường đồng loạt. Hãy thử nghiệm 5-10% công suất, xây khách hàng mới trong 12-24 tháng và chỉ mở rộng khi chứng minh được biên lợi nhuận, khả năng thu tiền và năng lực tuân thủ.

Theo ông, Nhà nước cần làm gì ngay lúc này để giúp doanh nghiệp giữ năng lực cạnh tranh trước những thay đổi trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ?
-Trước hết, Chính phủ cần duy trì một tổ công tác đàm phán và thực thi liên ngành cấp cao. Mục tiêu không chỉ là đề nghị Hoa Kỳ đưa Việt Nam về nhóm thuế 10%, mà quan trọng hơn là chứng minh Việt Nam đã có khuôn khổ pháp luật và cơ chế thực thi thực chất về phòng, chống lao động cưỡng bức.
Ngày 22/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Đây là bước đi quan trọng, nhưng điều Hoa Kỳ quan tâm không chỉ là quy định trên giấy mà còn là năng lực thực thi, kiểm tra và minh bạch dữ liệu của Việt Nam.
-Thứ hai, cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về chính sách thương mại Hoa Kỳ. Hệ thống này phải cập nhật đến từng mã HS, nhóm hàng miễn trừ, thời điểm chuyển tiếp, các vụ điều tra phòng vệ thương mại và các yêu cầu mới về lao động, xuất xứ, môi trường. Thông tin phải được chuyển thành hướng dẫn bằng tiếng Việt, dễ sử dụng đối với DNNVV, thay vì chỉ đăng tải một văn bản pháp lý dài hàng trăm trang.
-Thứ ba, Nhà nước cần ban hành gói tín dụng chuyển đổi, không nên hỗ trợ đại trà để duy trì mô hình kinh doanh cũ. Doanh nghiệp có đơn hàng khả thi nhưng bị thiếu vốn lưu động cần được cơ cấu thời hạn trả nợ, tăng hạn mức quay vòng, bảo lãnh tín dụng và tài trợ dựa trên đơn hàng. Doanh nghiệp đầu tư hệ thống truy xuất nguồn gốc, kiểm toán lao động, phần mềm quản trị nhà cung cấp, chứng nhận quốc tế và cải tiến công nghệ cần được hưởng tín dụng ưu đãi hoặc hỗ trợ một phần chi phí.
.jpg)
-Thứ tư, cần xây dựng trung tâm hỗ trợ tuân thủ thương mại quốc tế dùng chung cho DNNVV. Không thể yêu cầu mỗi doanh nghiệp nhỏ tự thuê luật sư Hoa Kỳ, chuyên gia xuất xứ và đơn vị kiểm toán chuỗi cung ứng. Trung tâm này phải cung cấp mẫu hồ sơ, tư vấn mã hàng, kiểm tra hợp đồng, đào tạo nhân sự, thẩm định nhà cung cấp và hỗ trợ doanh nghiệp khi hàng hóa bị cơ quan Hoa Kỳ yêu cầu giải trình. Cơ quan Hải quan Hoa Kỳ coi tuân thủ, trách nhiệm xã hội, khả năng truy xuất và cơ chế khắc phục là các trụ cột của quản trị rủi ro lao động cưỡng bức.
-Thứ năm, Nhà nước cần giảm chi phí trong nước để bù một phần bất lợi thuế quan: rút ngắn thời gian hoàn thuế, giảm chi phí kiểm tra chuyên ngành, số hóa C/O, nâng hiệu quả cảng và logistics, bảo đảm điện năng ổn định. Khi không thể quyết định chính sách thuế của Hoa Kỳ, chúng ta phải chủ động giảm chi phí mà Việt Nam có thể kiểm soát.
-Cuối cùng, cần hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường theo hướng “có đơn hàng, có đối tác và có tài chính”, thay vì xúc tiến thương mại hình thức. Bộ Công Thương đã xác định yêu cầu nâng hàm lượng nội địa, chuyển từ gia công sang sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn cao, phát triển cụm liên kết ngành và khai thác các FTA. Đây phải trở thành chương trình hành động có sản phẩm, doanh nghiệp và thị trường mục tiêu cụ thể.
Nhìn dài hạn hơn, theo ông cuộc cạnh tranh của hàng Việt tại thị trường Hoa Kỳ trong những năm tới sẽ được quyết định bởi yếu tố nào nhiều hơn: giá, chất lượng hay năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn về xuất xứ, lao động và minh bạch chuỗi cung ứng?
Trong những năm tới, năng lực cạnh tranh của hàng Việt tại Hoa Kỳ sẽ được quyết định theo ba tầng: Tuân thủ là điều kiện để được vào thị trường; chất lượng và năng lực giao hàng quyết định doanh nghiệp có được lựa chọn hay không; còn giá quyết định quy mô và lợi nhuận của đơn hàng.
Trong ba yếu tố đó, tuân thủ về xuất xứ, lao động và minh bạch chuỗi cung ứng sẽ ngày càng có trọng lượng lớn nhất, bởi đây là điều kiện mang tính “đạt hoặc không đạt”.
Việc Hoa Kỳ sử dụng Mục 301 để xử lý vấn đề lao động cưỡng bức cho thấy chính sách thương mại đã vượt khỏi phạm vi thuế quan truyền thống. Những tiêu chuẩn từng được coi là trách nhiệm xã hội tự nguyện đang dần trở thành công cụ bắt buộc để tiếp cận thị trường.
Cơ quan Hải quan và Bảo vệ biên giới Hoa Kỳ cũng yêu cầu doanh nghiệp có khả năng cung cấp hồ sơ hỗ trợ, giải trình nguồn gốc hàng hóa và chứng minh tính hợp pháp của chuỗi cung ứng. Các thông lệ được cơ quan này khuyến nghị bao gồm tuân thủ pháp luật, trách nhiệm xã hội, truy xuất và cơ chế khắc phục khi phát hiện sai phạm. Như vậy, doanh nghiệp không thể chỉ kiểm soát nhà máy của mình mà phải biết nguyên liệu đến từ đâu, nhà cung cấp cấp hai hoặc cấp ba là ai và lao động được sử dụng trong từng công đoạn như thế nào.
Tuy nhiên, không nên hiểu rằng giá không còn quan trọng. Hoa Kỳ vẫn là thị trường cạnh tranh quyết liệt. Đối với hàng tiêu dùng phổ thông, dệt may, da giày, đồ gỗ, thủy sản và nông sản chế biến, chênh lệch giá từ 2-3% có thể ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng. Nhưng trong tương lai, giá thấp chỉ có ý nghĩa sau khi doanh nghiệp đã vượt qua “cửa kiểm soát” về xuất xứ và tuân thủ.
Chất lượng cũng phải được hiểu rộng hơn. Chất lượng không chỉ là sản phẩm không lỗi mà còn bao gồm khả năng giao hàng đúng hạn, phản ứng nhanh, sản xuất linh hoạt, bảo đảm an toàn, thiết kế phù hợp, dịch vụ hậu mãi và khả năng duy trì nguồn cung khi xảy ra khủng hoảng. USTR đã xác định 4 chiều quan trọng của chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu là tính bền vững, an toàn, đa dạng và minh bạch. Điều đó cho thấy nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ không chỉ tìm nguồn hàng rẻ mà còn tìm nhà cung cấp đáng tin cậy và có thể kiểm chứng.
Đối với Việt Nam, thách thức là mô hình tăng trưởng xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, nguyên liệu nhập khẩu và hoạt động gia công. Sáu tháng đầu năm 2026, khu vực FDI chiếm khoảng 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải xây dựng một công thức cạnh tranh mới, không nên lựa chọn giữa giá, chất lượng và tiêu chuẩn, bởi cả ba đều cần thiết. Nhưng thứ tự đã thay đổi: trước đây doanh nghiệp có thể dùng giá thấp để bước vào thị trường; trong tương lai, phải vượt qua hàng rào minh bạch và tuân thủ trước khi được quyền cạnh tranh bằng giá.
Nếu doanh nghiệp Việt Nam chỉ coi mức thuế 12,5% là một khoản chi phí và tiếp tục kinh doanh như cũ, ông dự báo điều gì sẽ xảy ra trong 3-5 năm tới?
Nếu doanh nghiệp chỉ coi mức thuế 12,5% là một khoản chi phí kế toán, sau đó tiếp tục gia công, sử dụng chuỗi cung ứng cũ và phụ thuộc vào một số khách hàng lớn, tôi dự báo trong 3-5 năm tới sẽ diễn ra một quá trình sàng lọc rất mạnh. Điều đáng sợ không phải chỉ là lợi nhuận giảm trong một vài quý, mà là doanh nghiệp có thể mất vị trí trong chuỗi cung ứng và không còn khả năng quay trở lại.
-Tác động đầu tiên là biên lợi nhuận bị bào mòn. Doanh nghiệp có ba cách xử lý thuế: tăng giá bán, chia sẻ với khách hàng hoặc tự hấp thụ. Nếu tăng giá, hàng Việt có thể mất lợi thế trước các đối thủ chịu mức thuế thấp hơn. Nếu doanh nghiệp tự gánh, lợi nhuận sẽ giảm, trong khi vẫn phải trả lãi vay, tiền lương, logistics và chi phí nguyên liệu. Với những ngành có biên lợi nhuận mỏng, doanh nghiệp có thể duy trì doanh thu nhưng thực chất đang tiêu hao vốn chủ sở hữu.
.jpg)
-Tác động thứ hai là khách hàng sẽ âm thầm tái phân bổ đơn hàng. Các tập đoàn mua hàng thường không rút toàn bộ ngay lập tức mà chuyển 10-20% đơn hàng sang một nhà cung cấp khác để thử nghiệm, sau đó tăng dần tỷ trọng nếu nguồn cung mới đáp ứng yêu cầu. Doanh nghiệp Việt Nam có thể không nhận thấy nguy cơ trong sáu tháng đầu, nhưng sau vài chu kỳ mua hàng, vị trí nhà cung cấp chính có thể bị thay thế.
-Tác động thứ ba là rủi ro tuân thủ sẽ lớn hơn rủi ro thuế. Mức thuế hiện nay gắn với yêu cầu về lao động cưỡng bức, trong khi Hoa Kỳ đồng thời quan tâm tới xuất xứ, trợ cấp, năng lực sản xuất dư thừa, môi trường và các thực hành có thể ảnh hưởng đến thương mại. Nếu doanh nghiệp không xây dựng hệ thống truy xuất và quản trị nhà cung cấp, một lô hàng bị nghi ngờ có thể kéo theo kiểm tra sâu đối với nhiều lô hàng khác, làm gián đoạn quan hệ với nhà nhập khẩu.
-Tác động thứ tư là doanh nghiệp Việt Nam có thể bị mắc kẹt lâu hơn trong bẫy gia công giá rẻ. Khi lợi nhuận giảm, doanh nghiệp thường cắt đầu tư công nghệ, đào tạo và phát triển sản phẩm. Nhưng chính việc cắt đầu tư khiến năng suất không tăng, sản phẩm không được nâng cấp và doanh nghiệp càng phải cạnh tranh bằng giá. Đây là vòng xoáy đi xuống: lợi nhuận thấp dẫn đến đầu tư thấp; đầu tư thấp dẫn đến năng suất thấp; năng suất thấp lại làm lợi nhuận tiếp tục giảm.
-Tác động thứ năm là khoảng cách giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước tiếp tục mở rộng. Doanh nghiệp lớn có thể đầu tư hệ thống truy xuất, thuê tư vấn quốc tế, chuyển đổi nhà cung cấp và phân bổ sản xuất giữa nhiều quốc gia. DNNVV trong nước khó thực hiện những việc đó nếu không liên kết. Khi tiêu chuẩn ngày càng cao, doanh nghiệp nhỏ không chỉ mất đơn hàng trực tiếp mà còn có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
Theo kịch bản phân tích của tôi, quá trình này có thể diễn ra theo ba giai đoạn. Trong năm đầu tiên, doanh nghiệp chịu sức ép giảm giá và thiếu vốn lưu động. Từ năm thứ 2-3, khách hàng tái cấu trúc nguồn cung, các doanh nghiệp yếu bắt đầu mất đơn hàng và thu hẹp lao động. Từ năm thứ 3-5, thị trường hình thành một nhóm doanh nghiệp ít hơn nhưng quy mô lớn hơn, minh bạch hơn và có năng suất cao hơn; phần doanh nghiệp không chuyển đổi sẽ bị loại khỏi chuỗi xuất khẩu hoặc quay về cạnh tranh ở thị trường nội địa.
Tuy nhiên, mức thuế 12,5% cũng có thể trở thành sức ép tích cực. Nó buộc doanh nghiệp nhìn lại mô hình gia công, tỷ lệ nội địa hóa, quản trị dữ liệu, điều kiện lao động và mức độ phụ thuộc thị trường.
Xin trân trọng cảm ơn ông!