'Ông trùm xe hơi' giàu có bậc nhất Sài Gòn một thời: Sở hữu dinh thự 4 mặt tiền rộng 800m2 nhưng bất ngờ về quê ở ẩn, con cháu sống trong cảnh nghèo túng
Căn nhà nằm ngay trung tâm thành phố gắn với giai thoại về gia đình vị đại gia giàu nhất nhì Sài Gòn trước đây.
Giữa trung tâm TP.HCM ngày nay vẫn còn một tòa nhà cổ nằm trên khu đất rộng khoảng 800m2, tiếp giáp bốn tuyến đường Trần Hưng Đạo, Ký Con, Yersin và Lê Thị Hồng Gấm. Trên hai mặt tường, dòng chữ “NG.V.HAO” vẫn hiện diện như dấu tích về một trong những thương gia nổi tiếng của Sài Gòn thế kỷ trước - ông Nguyễn Văn Hảo.
Nguyễn Văn Hảo sinh năm 1890 tại tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình có 3 anh em và nhiều đời làm nông.
Cuộc đời ông bắt đầu rẽ sang một hướng khác sau khi người anh cả lên Sài Gòn lập nghiệp. Nguyễn Văn Hảo xin cha mẹ đi theo anh, từ đó tiếp xúc với nghề sửa chữa và kinh doanh phụ tùng ô tô. Nhờ tinh thần học hỏi, ông nhanh chóng học được nghề và trở thành thợ chính. Sau một thời gian tích lũy kinh nghiệm và vốn liếng, Nguyễn Văn Hảo quyết định đứng ra mở cửa hàng riêng.

Đó cũng là thời điểm phương tiện cơ giới ngày càng xuất hiện nhiều tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, kéo theo nhu cầu lớn về sửa chữa, lốp xe và phụ tùng.
Từ cửa hàng ban đầu, việc kinh doanh của Nguyễn Văn Hảo ngày càng phát đạt. Ông đi lên chủ yếu từ nghề bán phụ tùng xe hơi, sau đó trở thành đại diện kinh doanh vỏ, ruột ô tô của Michelin - thương hiệu Pháp rất được ưa chuộng tại Sài Gòn lúc bấy giờ.
Khi tiềm lực tài chính ngày càng lớn, hoạt động kinh doanh tiếp tục được mở rộng sang xăng dầu, garage sửa chữa và ô tô nguyên chiếc. Ông đã nhập về nhiều dòng xe quốc tế như Fiat, Lancia, Nash để bán tại Sài Gòn, đồng thời cung cấp dịch vụ bảo trì, sửa chữa ngay tại garage. Theo thời gian, Nguyễn Văn Hảo dần trở thành cái tên nổi bật trong lĩnh vực ô tô và được nhắc đến với biệt danh “trùm xe hơi” Sài Gòn.
Dinh thự 800m2 có 4 mặt tiền giữa trung tâm Sài Gòn
Sự phát triển của cơ nghiệp Nguyễn Văn Hảo được thể hiện rõ nhất khi vợ chồng ông mua được khu đất rộng hơn 800m2, tiếp giáp bốn mặt đường Trần Hưng Đạo, Ký Con, Yersin và Lê Thị Hồng Gấm. Công trình mất khoảng 4 năm để hoàn thiện, đến năm 1937 mới chính thức thành hình.

Tòa nhà mang dấu ấn kiến trúc phương Tây, được nhận diện nổi bật bởi phong cách Art Deco với các hình khối khỏe khoắn. Đặc biệt có dòng chữ “NG.V.HAO” - viết theo tên chủ nhân - được tạo hình trực tiếp trên mặt đứng của công trình.
Phía dưới được chia thành nhiều khu vực phục vụ hoạt động buôn bán. Mặt đường Trần Hưng Đạo từng bố trí cây xăng, phía sau là garage sửa chữa ô tô, trong khi những không gian khác được sử dụng làm cửa hàng phụ tùng. Các tầng phía trên là nơi sinh sống của gia đình.
Trên tầng cao nhất còn có một hồ bơi nhỏ. Dù công trình chỉ có vài tầng, bên trong đã được lắp thang máy - một trang bị rất hiếm đối với nhà ở tư nhân tại Sài Gòn thời bấy giờ. Nền nhà sử dụng gạch bông được đưa từ Pháp sang, trong khi hai bên hông công trình đều có chữ “NG.V.HAO”.
Sân thượng của tòa nhà còn có khu “huê viên”, hồ cá và không gian nghỉ ngơi của gia đình. Những chi tiết này phần nào cho thấy quy mô tài sản cũng như mức sống của gia đình Nguyễn Văn Hảo ở thời kỳ đỉnh cao.

Ngoài ra, ông còn là người khá đam mê với cải lương nên vào năm 1940, ông đã mua đất xây dựng một rạp hát mang chính tên của mình - rạp Nguyễn Văn Hảo. Công trình về sau trở thành một trong những sân khấu cải lương nổi tiếng của Sài Gòn.
Trong rạp có 3 tầng với tổng sức chứa lên tới 1.200 người. Tầng trệt có khoảng 500 ghế bọc nệm dành cho vé hạng nhất; tầng hai chứa khoảng 400 ghế, còn tầng trên cùng có thể chứa khoảng 300 khán giả với mức vé thấp hơn. Tổng sức chứa của rạp lên tới hơn 1.200 người.
Quy mô lớn khiến rạp Nguyễn Văn Hảo từng được ví như “hàng không mẫu hạm” của giới cải lương Sài Gòn. Nơi đây từng là điểm biểu diễn của nhiều đoàn hát nổi tiếng và trở thành một trong những địa chỉ giải trí quen thuộc của người dân thành phố. Sau năm 1975, rạp được đổi tên thành rạp Công Nhân.
Đại gia rời thương trường, trở về quê
Sau nhiều thập kỷ gây dựng cơ nghiệp tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Hảo dần rút khỏi thương trường.
Năm 1966, người vợ đầu của ông qua đời, ông đã ngừng hoạt động công ty, giao lại nhiều tài sản cho người thân và trở về quê nhà Càng Long sinh sống.

Tại quê nhà, ông dành tiền xây dựng Hảo Tâm tự, thường được người dân gọi là “chùa ông Hảo”. Công trình được xây trên khuôn viên khoảng 8.000m2, mang phong cách kết hợp giữa kiến trúc Á Đông và phương Tây, nổi bật với ngọn tháp 9 tầng.
Gần khu vực chùa, Nguyễn Văn Hảo còn cho xây dãy phố và một khu chợ để người dân buôn bán. Trong những năm chiến sự căng thẳng, khu vực này trở thành nơi trú ngụ của nhiều người dân, được ông hỗ trợ lương thực, thuốc men và cho mượn đất sản xuất.
Nguyễn Văn Hảo qua đời năm 1971, khép lại cuộc đời của một thương gia đi lên từ nghề sửa chữa phụ tùng ô tô và gây dựng được một cơ nghiệp lớn tại Sài Gòn. Dù sở hữu một khối tài sản lớn, Nguyễn Văn Hảo lại không có một thế hệ kế nghiệp theo đúng con đường kinh doanh mà ông từng gây dựng.
Ông có hai người vợ nhưng chỉ có một người con trai là Nguyễn Tâm Thạnh, sinh năm 1929. Khác với người cha dành phần lớn thời gian cho việc buôn bán, ông Thạnh không có hứng thú với thương trường. Khi còn bé ông đi đây đó, săn bắn và có những thú vui riêng. Vì thế, sau khi cha ông rút khỏi thương trường, cơ nghiệp không còn phát triển như xưa. Những biến động xã hội trong các thập niên tiếp theo càng khiến số phận khối tài sản thay đổi.
Sau năm 1975, tầng trệt của tòa nhà bốn mặt tiền được đưa vào diện quản lý của Nhà nước, trong khi gia đình ông Nguyễn Tâm Thạnh cùng các con cháu tiếp tục sinh sống tại một phần diện tích phía trên.

Theo những tư liệu được ghi lại, các thành viên trong gia đình được chia những căn phòng nhỏ để sinh sống. Trong giai đoạn khó khăn, nhiều đồ đạc trong nhà lần lượt được bán đi để trang trải cuộc sống. Thậm chí một số tấm kính của công trình cũng được tháo bán để có tiền mua gạo.
Gần một thế kỷ sau ngày được xây dựng, tòa nhà bốn mặt tiền của Nguyễn Văn Hảo vẫn hiện diện giữa khu trung tâm TP.HCM như một chứng tích về một thời vàng son của giới thương nhân Sài Gòn thế kỷ XX.