Phó Thủ tướng kiểm tra tiến độ dự án điện khí LNG gần 19.000 tỷ đồng
Dự án có công suất 1.200MW, được triển khai trên cơ sở nâng cấp và mở rộng nhà máy điện hiện hữu.
Chiều 4/10, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã trực tiếp kiểm tra công trường và làm việc về tiến độ Dự án Nhà máy điện khí LNG Hiệp Phước tại TP.HCM.
Nhà máy điện khí LNG gần 19.000 tỷ đồng đã hoàn thành 60% phần xây dựng
Theo báo cáo của Công ty TNHH Điện lực Hiệp Phước, Dự án Nhà máy điện khí LNG Hiệp Phước giai đoạn I có công suất 1.200MW, tổng mức đầu tư hơn 18.911 tỷ đồng, tương đương khoảng 892,8 triệu USD.
Dự án được triển khai theo hình thức đầu tư tư nhân xây dựng – sở hữu – vận hành, trên cơ sở nâng cấp và mở rộng Nhà máy điện Hiệp Phước hiện hữu công suất 375MW.
Nhà máy cũ gồm ba tổ máy, được đưa vào vận hành thương mại từ năm 1998, ban đầu sử dụng nhiên liệu dầu nặng. Đến năm 2009, các tổ máy được cải tạo để có thể vận hành bằng cả dầu nặng và khí tự nhiên.
Ở giai đoạn I, HPPC đầu tư ba tổ máy tua-bin khí chu trình hỗn hợp. Siemens Energy là đơn vị cung cấp ba tua-bin khí, ba máy phát điện, ba lò thu hồi nhiệt và hệ thống thiết bị đồng bộ.
Một số thiết bị chính đã được đưa về nhà máy. Những thiết bị còn lại đã hoàn thành khoảng 98% quá trình sản xuất và đang chờ vận chuyển về Việt Nam.
Tại công trường, khối lượng thi công xây dựng hiện đạt khoảng 60%, còn lắp đặt thiết bị đạt khoảng 20%. Công tác ép cọc, bể nước cứu hỏa dung tích 8.000m³, bệ móng của ba tổ máy và một số hạng mục lớn khác đã hoàn thành.
Sau khi nghe báo cáo, Phó Thủ tướng đánh giá dự án có nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ và có khả năng bổ sung nguồn điện lớn cho khu vực phía Nam trước năm 2030. TP.HCM được yêu cầu sớm hoàn tất các thủ tục thuộc thẩm quyền, phối hợp với Bộ Công Thương và ngành điện chuẩn bị đồng bộ hệ thống truyền tải.
Thông điệp được Phó Thủ tướng nhấn mạnh là TP.HCM không thể thiếu điện cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.
Đáng chú ý, trước đó, tháng 3/2026, HPPC đã ký hợp đồng mua bán điện với EVF khi chính thức khởi công dự án. Đây là hợp đồng mua bán điện LNG thứ hai tại Việt Nam, sau Nhơn Trạch 3&4; đồng thời là hợp đồng đầu tiên được ký theo cơ chế ưu đãi dành cho dự án sử dụng LNG nhập khẩu tại Nghị định 56/2025 và Nghị định 100/2025.

Dự án đồng thời cải tạo cảng hiện hữu có khả năng tiếp nhận tàu 40.000DWT thành cảng nhập khí thiên nhiên hóa lỏng; xây dựng bồn chứa LNG có dung tích làm việc 75.000m³ cùng hệ thống tái hóa khí cung cấp nhiên liệu cho nhà máy.
Nhà máy được thiết kế đấu nối ở hai cấp điện áp 110kV và 220kV. Ở cấp 110kV, dự án kết nối với các trạm biến áp khu vực như Tân Thuận, Phú Mỹ Hưng, Nhà Bè và Long Thới. Ở cấp 220kV, nhà máy dự kiến đấu nối thông qua tuyến cáp ngầm mới vào đường dây Phú Mỹ – Cần Đước.
Theo kế hoạch mới nhất, ba tổ máy dự kiến lần lượt vận hành thương mại vào tháng 10, tháng 11 và tháng 12/2028. Khi hoạt động đầy đủ, giai đoạn I có thể cung cấp hơn 7 tỷ kWh điện thương phẩm mỗi năm cho hệ thống điện quốc gia.
Sau giai đoạn I, chủ đầu tư đang thực hiện thủ tục đầu tư giai đoạn II với công suất 1.500MW. Tháng 6/2026, HPPC và CTCP Tư vấn xây dựng Điện 3 (TV3) đã ký hợp đồng tư vấn khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi và các báo cáo chuyên ngành cho dự án.
Ngoài hai giai đoạn trên, HPPC còn đề xuất bổ sung giai đoạn III với công suất 1.500MW nhằm tận dụng hệ thống kho cảng, tái hóa khí và các hạ tầng LNG đã đầu tư.
Nếu cả ba giai đoạn được thực hiện, tổng công suất của tổ hợp điện khí LNG Hiệp Phước có thể đạt 4.200MW, gấp hơn 11 lần công suất 375MW của nhà máy hiện hữu.

Lợi thế của nguồn điện nằm gần trung tâm phụ tải
Tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho rằng, một trong những lợi thế quan trọng nhất của LNG Hiệp Phước là vị trí gần các trung tâm phụ tải lớn của TP.HCM và Đồng Nai.
Đây là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, hệ thống cảng và các trung tâm dịch vụ có nhu cầu sử dụng điện lớn. Cùng với quá trình mở rộng sản xuất, nhu cầu từ những lĩnh vực mới như trung tâm dữ liệu cũng đang tăng lên.
Việc bố trí nguồn điện gần nơi tiêu thụ giúp giảm nhu cầu truyền tải từ xa, hạn chế tổn thất điện năng và nâng cao độ tin cậy của hệ thống. Trong trường hợp xảy ra sự cố hoặc xuất hiện điều kiện vận hành bất lợi, một nguồn điện quy mô lớn đặt gần khu vực phụ tải còn giúp tăng khả năng ứng phó.
Tuy nhiên, nhà máy chỉ có thể phát huy hiệu quả khi nguồn điện và hạ tầng truyền tải được hoàn thành đồng bộ.
Hiện TP.HCM đang hoàn tất thủ tục phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 của giai đoạn I. Thành phố cũng phải phối hợp với Bộ Công Thương cập nhật quy hoạch, điều chỉnh tiến độ các công trình truyền tải và làm việc với ngành điện để chuẩn bị hệ thống đấu nối phù hợp với tiến độ từng tổ máy.
Phó Thủ tướng yêu cầu TP.HCM, Bộ Công Thương, ngành điện và chủ đầu tư phối hợp chặt chẽ, đẩy nhanh giai đoạn I và II, đồng thời bảo đảm hệ thống truyền tải có thể tiếp nhận công suất ngay khi các nguồn điện hoàn thành.