Tăng trưởng 2 con số chưa đủ, TS. Nguyễn Đức Kiên chỉ ra bài toán lớn nhất của Việt Nam trong 10 năm tới
TS. Nguyễn Đức Kiên chỉ ra 3 quyết định chiến lược Việt Nam cần thực hiện trong 10 năm tới để tăng trưởng 2 con số, hướng tới mục tiêu phát triển năm 2045.

Nền kinh tế Việt Nam đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng bứt phá và chính thức gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, khoảng cách giữa những con số vĩ mô ấn tượng và cảm nhận thụ hưởng thực tế của người dân vẫn cần được thu hẹp thông qua đổi mới mô hình phát triển.
Trao đổi về vấn đề này trong talkshow "tăng trưởng 2 con số là chưa đủ, điều gì quyết định Việt Nam trở thành nước giàu", TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đã phân tích thực trạng, bài học quốc tế và những quyết sách cần thiết để Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045.
Tăng trưởng 2 con số tạo đà bứt phá, Việt Nam vẫn đối mặt khoảng cách thụ hưởng
Kinh tế Việt Nam bước vào những tháng cuối năm 2026 với nền tảng tích cực. GDP quý III/2026 tăng 9,95%, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%, cao nhất kể từ năm 2011 và vượt xa mức trung bình 2,9% của thế giới.
Sản xuất công nghiệp tăng trên 12%, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 888 tỷ USD, vốn FDI đăng ký gần 50,4 tỷ USD, vốn FDI thực hiện vượt 21 tỷ USD. Thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 2,19 triệu tỷ đồng, tương đương 90% dự toán. Để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, GDP quý IV cần tăng trên 12%, đòi hỏi động lực lớn từ đầu tư công.
Đánh giá kết quả này, TS. Nguyễn Đức Kiên nhận định tăng trưởng 9 tháng phản ánh tương đối chính xác thực trạng kinh tế cuối năm 2026. Theo ông, việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cùng cuộc đổi mới lần thứ hai về hệ thống chính trị, bộ máy và việc xử lý hàng loạt văn bản pháp quy trong vòng một tháng, đã góp phần củng cố mạnh mẽ niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp.
Sau 40 năm đổi mới kể từ năm 1986, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gấp 49 lần. Ngân hàng Thế giới đã xếp Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao. Theo số liệu được đề cập, thu nhập bình quân đạt khoảng 4.970 USD; năm 2025, quy mô nền kinh tế đạt 510 tỷ USD và thu nhập bình quân đạt 5.026 USD.
Tuy nhiên, vị thế mới cũng đặt ra những áp lực lớn hơn. Theo TS. Nguyễn Đức Kiên, khi gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao, Việt Nam không còn được hưởng một số ưu đãi thương mại và nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Thế giới, vốn đã dừng từ năm 2017. Điều này đòi hỏi nền kinh tế phải cạnh tranh bình đẳng theo các chuẩn mực quốc tế.
Lý giải việc người dân có thể thấy thu nhập tăng nhưng vẫn chịu áp lực lớn từ chi phí nhà ở, y tế và giáo dục, TS. Nguyễn Đức Kiên phân biệt lợi ích trực tiếp với lợi ích gián tiếp của tăng trưởng. Sự phát triển của bán lẻ, dịch vụ giúp người dân cảm nhận ngay những thay đổi, trong khi đầu tư công vào hạ tầng giao thông thường mang lại lợi ích gián tiếp.
Chẳng hạn, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng giúp rút ngắn thời gian di chuyển từ 3 giờ xuống còn 1,5 giờ. Tuy nhiên, lợi ích này không phải lúc nào cũng được người dân nhận thấy ngay lập tức.
Theo TS. Nguyễn Đức Kiên, thu nhập bình quân chưa phản ánh đầy đủ sự chênh lệch mức sống giữa vùng đồng bằng, khu công nghiệp với vùng sâu, vùng xa và hải đảo. Người dân chỉ thực sự cảm thấy hạnh phúc khi thu nhập đủ trang trải chi phí sinh hoạt và có thêm một khoản tích lũy cho gia đình.
Về nhà ở, ông ghi nhận bước chuyển quan trọng từ năm 2025 với việc thành lập Quỹ nhà ở quốc gia, đưa nhà ở trở thành trách nhiệm của Nhà nước thay vì phó mặc cho thị trường. Tư duy phát triển cũng cần chuyển từ sở hữu bất động sản nông nghiệp sang xây dựng thị trường nhà ở cho thuê ổn định, phù hợp với xã hội công nghiệp và hỗ trợ dịch chuyển lao động.
Trong lĩnh vực y tế, TS. Nguyễn Đức Kiên đánh giá cao kết quả thu hút hơn 3 tỷ USD từ du lịch chữa bệnh trong năm 2025 nhờ trình độ bác sĩ vươn tầm thế giới. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh cần tiếp tục nâng cao chất lượng y tế tuyến đầu để giảm tải cho tuyến cuối.

Tránh bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần đổi mới thể chế và công nghệ
Theo Ngân hàng Thế giới, từ năm 1990 đến nay, chỉ có 34 nền kinh tế vượt ngưỡng thu nhập trung bình để trở thành nước thu nhập cao. Trong số này, hơn 1/3 nhờ gia nhập Liên minh châu Âu (EU) hoặc sở hữu nguồn dầu mỏ.
TS. Nguyễn Đức Kiên lưu ý gần 90% quốc gia khi bước vào nhóm thu nhập trung bình cao đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Brazil từng tăng trưởng 2 con số trong những năm 1950-1960 nhưng sau đó trì trệ nhiều thập kỷ do không tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu, chủ yếu làm gia công. Argentina từng nằm trong nhóm ba nước giàu nhất thế giới vào đầu thế kỷ XX, nhưng chi tiêu công vượt khả năng cân đối, thâm hụt ngân sách và nợ công kéo dài đã dẫn đến việc tuyên bố phá sản. Từ bài học này, ông nhấn mạnh Việt Nam đã chủ động khống chế trần nợ công ở mức 65%.
Tại châu Á, Malaysia phát triển ngành điện tử từ sớm, đồng thời thành lập Petronas năm 1975, cùng năm với PVN. Tuy nhiên, theo phân tích của TS. Nguyễn Đức Kiên, do thiếu sự hỗ trợ ở tầm vóc nhà nước như mô hình quỹ Temasek của Singapore, thương hiệu ô tô Proton và các ngành công nghiệp của Malaysia chưa tạo được bước đột phá toàn cầu.
Thái Lan từng được xem là một con hổ kinh tế nhưng chững lại do bất ổn kinh tế vĩ mô và thể chế. Trong khi đó, Singapore thành công nhờ phát triển dịch vụ tài chính, logistics và giáo dục đạt chuẩn G7. Hàn Quốc vượt bẫy thu nhập trung bình bằng cách lựa chọn đúng lĩnh vực đột phá qua từng thời kỳ, từ công nghiệp nặng, thép Posco và ô tô trong thế kỷ XX đến chip, bán dẫn trong thế kỷ XXI.
Để tránh nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình, TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng Việt Nam phải đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên ba đột phá về hạ tầng, thể chế và nhân lực.
Trước hết, cần thay đổi tư duy, coi doanh nhân là hiền tài, là nguyên khí quốc gia. Ông nhắc đến lãnh đạo các tập đoàn TH True Milk, Vinamilk, Vingroup, Thaco, Hòa Phát, đồng thời nhấn mạnh việc trân trọng đội ngũ quản lý doanh nghiệp nhà nước.
Đánh giá Nghị quyết 68, TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng việc xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất thể hiện sự thừa nhận thực tế khách quan. Tuy nhiên, hạn chế của giai đoạn trước là quá chú trọng gia tăng số lượng doanh nghiệp nhỏ mà chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng các tập đoàn lớn mang thương hiệu quốc gia.
Theo ông, việc kết hợp Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân, Nghị quyết 79 về doanh nghiệp nhà nước và Nghị quyết 10 về FDI sẽ giúp Việt Nam chuyển từ tư duy thu hút FDI bằng mọi giá sang tận dụng FDI để tiếp nhận, chuyển giao công nghệ.
Về hạ tầng, TS. Nguyễn Đức Kiên nhấn mạnh dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam trị giá 70 tỷ USD cần được nhìn nhận như cơ hội dành 40 tỷ USD để phát triển ngành công nghiệp giao thông vận tải trong nước. Với cơ chế bao tiêu sản phẩm của Nhà nước, Hòa Phát có thể sản xuất thép ray P63; Thaco và Thành Công có thể hợp tác mua bản quyền đóng toa xe, qua đó giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ.
Đối với AI và bán dẫn, ông lưu ý AI phải dựa trên nền tảng máy móc tự động hóa hoặc dữ liệu lớn, chứ không thể chỉ dừng ở lời nói. Giáo dục cũng cần chuyển từ đào tạo thiên về hàn lâm sang đào tạo kỹ sư, công nhân có khả năng điều khiển máy móc, đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Ba quyết định then chốt cho mục tiêu phát triển năm 2045
Hướng tới năm 2030 với thu nhập bình quân khoảng 8.500 USD và năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập trên 14.375 USD, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng thu nhập bình quân khoảng 6%/năm trong 20 năm tới.
TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng Việt Nam có đủ yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, từ bối cảnh thế giới đa cực, vị trí trung tâm châu Á - Thái Bình Dương đến khát vọng làm giàu của 100 triệu dân. Tuy nhiên, lợi thế địa lý cần được phát huy thông qua phát triển hạ tầng logistics. Trước áp lực già hóa dân số, tự động hóa trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là công cụ thay thế lao động thủ công và nâng cao năng suất.
Để gia nhập nhóm nước thu nhập cao trong giai đoạn 2037-2040, TS. Nguyễn Đức Kiên nhấn mạnh ba quyết định quan trọng trong 10 năm tới: giữ vững ổn định chính trị; kiên trì mục tiêu với sự đồng hành giữa Nhà nước và doanh nghiệp; phát huy đồng thuận xã hội và tinh thần đoàn kết dân tộc.
Bên cạnh đó, cần chuyển tư duy sang “đầu tư công thu hút đầu tư tư”, kết hợp chính sách ưu đãi dài hạn 10-20 năm để tạo sức bật tổng hợp.
Vượt bẫy thu nhập trung bình không chỉ là đạt được những con số tăng trưởng cao, mà còn là chuyển hóa năng lực cạnh tranh quốc gia thành chất lượng sống, hạnh phúc và thịnh vượng thực chất cho mỗi người dân.