Đời sống

Giáo sư góp công vô hiệu hóa bom từ trường của Mỹ: Trở thành giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 19 tuổi, nghỉ hưu vẫn được mời sang châu Phi làm chuyên gia cao cấp

Việt Tùng • 12/10/2026 09:23

Trở thành giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội khi mới 19 tuổi, Giáo sư này đã cống hiến trọn đời cho khoa học, góp công lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và đặt nền móng đào tạo vật lý hạt nhân nước nhà.

Ngày 9/10, nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Đại học Bách khoa Hà Nội (1956-2026), Giáo sư (GS.) Nguyễn Nguyên Phong ở tuổi 88 trở lại mái trường xưa để tham quan triển lãm thành tựu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bước vào phòng truyền thống, vị Giáo sư không khỏi xúc động khi đứng trước xác bom từ trường cùng tấm ảnh chụp nhóm nghiên cứu đặc nhiệm GK1. Đây là công trình "Giải pháp rà phá thủy lôi và bom từ trường", một trong tám công trình tiêu biểu nhất lịch sử 70 năm của trường, từng được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một năm 1996.

gsnguyen_phong.png
GS. Nguyễn Nguyên Phong (áo xanh, đứng giữa hàng đầu) có dịp trở lại Đại học Bách Khoa Hà Nội nhân dịp 70 năm thành lập trường. Ảnh: Đại học Bách Khoa Hà Nội

Đứng giữa không gian đong đầy ký ức, ông chia sẻ những kỷ niệm vẻ vang trong gần 4 thập kỷ gắn bó với Đại học Bách khoa Hà Nội. Trong lịch sử nhà trường, GS. Nguyễn Nguyên Phong không chỉ là niềm tự hào mà còn trở thành nhân vật truyền ngọn lửa nhiệt huyết, bản lĩnh khoa học cho hàng nghìn sinh viên thế hệ sau.

Sinh năm 1938 tại Thanh Hóa, GS. Nguyễn Nguyên Phong ngay từ trẻ đã sớm bộc lộ trí tuệ xuất sắc trong các môn khoa học tự nhiên. Sau 3 năm miệt mài theo học chuyên ngành Vật lý tại trường Đại học Sư phạm, ông tốt nghiệp xuất sắc năm 1957.

Ngay sau đó, ở tuổi 19, chàng trai trẻ Nguyễn Nguyên Phong nhận quyết định về công tác tại Đại học Bách khoa Hà Nội, trở thành một trong những cán bộ giảng dạy Vật lý đầu tiên và trẻ tuổi nhất khi nhà trường mới thành lập được 1 năm.

Nhằm nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu đất nước, giai đoạn 1961-1963, ông được cử sang Liên Xô thực tập. Từ năm 1966-1970, ông tiếp tục làm cộng tác viên khoa học tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna, trung tâm nghiên cứu vật lý hạt nhân hàng đầu thế giới thời bấy giờ.

gsnguyen_phong 1
GS. Nguyên Phong được cử sang Liên Xô học hỏi. Ảnh: Sưu tầm

Tại đây, ông tiếp thu nền tảng tri thức tiên tiến nhất. Năm 1970, ông trở về nước, mang theo nhiều khát vọng, gây dựng nền móng cho bộ môn Kỹ thuật Hạt nhân tại Đại học Bách khoa Hà Nội.

Cuộc đấu trí thời chiến và di sản khoa học vươn tầm quốc tế

Hồi hương ở thời điểm dân tộc đang căng mình trong cuộc chiến khốc liệt, GS. Nguyễn Nguyên Phong không ngại dấn thân ở những trận tuyến khoa học gian khó nhất. Mùa xuân năm 1972, Mỹ tiến hành phong tỏa cảng Hải Phòng và các cửa sông miền Bắc bằng thủy lôi từ tính và bom từ trường công nghệ cao.

Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Phan Trọng Tuệ và Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã tập hợp lực lượng trí thức thành lập Tổ nghiên cứu đặc nhiệm GK1 do GS. Vũ Đình Cự làm tổ trưởng, GS. Nguyễn Nguyên Phong là một trong sáu thành viên nòng cốt đầu tiên.

Trước đó, lực lượng quân sự tuy rà phá được một số quả bom nhưng chưa thể nắm chắc cơ chế kích nổ, dẫn đến thương vong rất lớn. Muốn vô hiệu hóa tận gốc, nhóm GK1 buộc phải "mổ xẻ" cơ chế hoạt động của chúng. Dưới sự hỗ trợ của lực lượng hải quân, các quả bom và thủy lôi chưa nổ từ Hải Phòng được vận chuyển bí mật về Hà Nội. GS. Nguyễn Nguyên Phong cùng các đồng nghiệp trực tiếp đo đạc từng chỉ số từ trường, phân tích cấu tạo mạch điện tử phức tạp bên trong quả bom.

gsnguyen_phong 2
GS. Nguyên Phong (giữa) cùng các đồng nghiệp nhận sứ mệnh quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ảnh: Sưu tầm

Thử thách lớn nhất là làm sao hiểu rõ cách thức cảm biến từ trường phát hiện mục tiêu (như vỏ tàu sắt đi qua) để gửi tín hiệu kích nổ. Nhóm đã tiến hành hàng loạt thực nghiệm nguy hiểm tại Hải Phòng và ngay trên sân bóng của Đại học Bách khoa Hà Nội.

Làm việc trong điều kiện thiếu thốn, sinh tử cận kề, GS. Nguyễn Nguyên Phong nhớ lại tại buổi trở về trường: "Có những giai đoạn ba đêm liền không ngủ, muỗi đốt kín chân, bom rơi bên cạnh vẫn phải tập trung làm việc vì chúng tôi hiểu những gì mình làm liên quan trực tiếp đến tính mạng con người. Có anh em hôm trước còn đang thảo luận, hôm sau đã hy sinh. Thế thì làm sao chúng tôi ngồi yên được".

Sau 3 tháng nghiên cứu khẩn trương, nhóm đã làm chủ hoàn toàn nguyên lý gây nổ. Từ kết quả này, nhóm thiết kế và sản xuất thành công 3 loại khí tài cốt lõi: thiết bị tạo xung từ trường mạnh để kích nổ bom mìn từ xa, máy phát sóng gây nhiễu nhằm làm vô hiệu hóa cảm biến từ của bom, và ca nô không người lái tạo từ trường giả lập chạy trước mở đường.

Nhờ các thiết bị này, hàng vạn luồng tuyến giao thông thủy được khai thông, giảm thiểu tối đa thương vong và phá tan âm mưu phong tỏa miền Bắc của Mỹ. Công trình xuất sắc nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.

Không dừng lại, giai đoạn 1970-1976, ông cùng đồng nghiệp tiên phong nghiên cứu, ứng dụng Kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) sử dụng bức xạ gamma và tia X. Giữa làn ranh sinh tử, các thầy giáo Đại học Bách khoa Hà Nội đã mang thiết bị ra hiện trường kiểm tra vết nứt tuabin tại các nhà máy nhiệt điện bị bom phá hoại, soi kiểm tra mối hàn công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà máy Thủy điện Đa Nhim. Ông cũng vận động thành lập Hội Kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) Việt Nam năm 1998, tạo tiền đề phát triển mạnh mẽ cho ngành cơ khí, chế tạo toàn quốc.

Năm 1976, khi Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam thành lập, ông đảm nhiệm vai trò Trưởng phòng Lò phản ứng và Điện hạt nhân đầu tiên, trực tiếp khảo sát lò phản ứng TRIGA-MARK II tại Đà Lạt. Bằng năng lực chuyên môn sâu rộng, ông đã chứng minh hiện tượng độ phóng xạ tăng cao trong lò là do tạp chất niken và đồng trong vỏ nhôm Mỹ bị kích hoạt chứ không phải do neutron kích hoạt sắt, khiến các chuyên gia Liên Xô vô cùng nể phục.

Đặc biệt, ông cùng cộng sự đã kiên trì đấu tranh chuyên môn để bổ sung cụm từ "và mở rộng" vào dự án hợp tác với Liên Xô, giúp nâng công suất Lò phản ứng Đà Lạt từ 250kW lên 500kW (khởi công năm 1982), biến nơi đây thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất đồng vị phóng xạ chủ lực của đất nước.

Trên mặt trận ngoại giao hạt nhân giai đoạn 1977-1980, ông làm Trưởng Tiểu ban Kỹ thuật thuộc đoàn đàm phán do Đại sứ Võ Văn Sung dẫn đầu tại Vienna (Áo). Cuộc đấu trí nghẹt thở với IAEA đã đi vào lịch sử với giai thoại "con mèo và con hổ". Khi phía quốc tế lo ngại lò Đà Lạt tách được Plutonium làm bom, đoàn Việt Nam đã chứng minh lò chỉ như "con mèo nhỏ" không thể biến thành "con hổ", tháo gỡ nút thắt pháp lý quốc tế để ký kết Hiệp định Bảo đảm thành công. Ông cũng góp công lớn mang về nhiều dự án viện trợ kỹ thuật giá trị như Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội.

Trở lại giảng đường, ông nhận danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1992, giữ chức Viện phó Viện Vật lý Kỹ thuật Đại học Bách khoa Hà Nội (1985-1995). Sau khi nghỉ hưu năm 1995, ông nhận lời mời làm Chuyên gia cao cấp cho Bộ Khoa học và Công nghệ Angola và Giáo sư Thực thụ tại Đại học Quốc gia Agostinho Neto (1995-2019). Tại đây, ông hỗ trợ Angola trở thành thành viên IAEA và trực tiếp đào tạo nhiều tiến sĩ, trong đó có bà Maria Cândida Pereira Teixeira, người sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục Angola.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-11 18:44
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/giao-su-gop-cong-vo-hieu-hoa-bom-tu-truong-cua-my-tro-thanh-giang-vien-dai-hoc-bach-khoa-ha-noi-nam-19-tuoi-nghi-huu-van-duoc-moi-sang-chau-phi-lam-chuyen-gia-cao-cap-1470164.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Giáo sư góp công vô hiệu hóa bom từ trường của Mỹ: Trở thành giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 19 tuổi, nghỉ hưu vẫn được mời sang châu Phi làm chuyên gia cao cấp
    POWERED BY ONECMS & INTECH