Indonesia gần như rút lui, thị trường mua lớn nhất siết nhập khẩu: Mặt hàng tỷ USD của Việt Nam xoay trục thế nào trong năm 2026?
Hai thị trường lớn đồng loạt thu hẹp, mặt hàng tỷ USD của Việt Nam bước vào năm 2026 với bài toán xoay trục đầy thách thức.

Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đầu tháng 12/2025 nằm ở nhóm trung bình cao, nhưng giảm nhẹ về cuối tháng khi nguồn cung toàn cầu tăng mạnh.
Các thương nhân lo ngại năm 2026 sẽ khó khăn hơn khi Philippines có thể tái áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, còn Indonesia hiện gần như rút khỏi thị trường do dư cung nội địa. Trong khi đó, Ấn Độ duy trì nguồn cung lớn và tiếp tục tạo sức ép cạnh tranh lên giá gạo toàn cầu.
Năm 2025, việc Philippines nhiều lần gia hạn lệnh tạm ngừng nhập khẩu để hỗ trợ nông dân trong nước đã khiến lượng gạo Việt Nam xuất sang thị trường này giảm gần một phần tư về sản lượng và hơn bốn mươi phần trăm về giá trị. Tác động lan tỏa nhanh chóng sang các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là những đơn vị có tỷ trọng doanh thu lớn từ thị trường này.
Điều này khiến tâm lý nhiều thương nhân lo ngại khó khăn từ việc Philippines tái áp dụng hạn ngạch nhập khẩu là điều khó tránh khỏi.
Trong khi đó, tại Indonesia, theo Hãng thông tấn quốc gia Indonesia (Antara), dự trữ gạo quốc gia nước này dự báo đạt kỷ lục 3,5 triệu tấn vào cuối năm 2025, mức cao nhất kể từ khi hoàn toàn không dựa vào nhập khẩu. Sản lượng gạo của Indonesia năm 2025 ước đạt 34,79 triệu tấn, tăng 13,6% so với năm trước.
Chính phủ Indonesia đã chỉ đạo Bulog (Cơ quan Hậu cần Quốc gia Indonesia) tăng mạnh thu mua nội địa, với chỉ tiêu 4 triệu tấn gạo trong năm 2026 (so với 3 triệu tấn năm 2025) và 1 triệu tấn ngô, nhằm hỗ trợ nông dân và tăng dự trữ an ninh lương thực. Điều này khiến khả năng Indonesia quay lại nhập khẩu gạo trong ngắn hạn là rất thấp
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Philippines và Indonesia thu hẹp, việc tái cấu trúc thị trường và sản phẩm xuất khẩu được xem là hướng đi mang tính chiến lược. Giảm phụ thuộc vào một vài thị trường truyền thống, phát triển các phân khúc gạo chất lượng cao, gạo thơm và từng bước xây dựng thương hiệu riêng là con đường đòi hỏi sự kiên trì và đầu tư bài bản. Đây cũng là phép thử quan trọng cho sức bền và khả năng thích ứng của ngành gạo Việt Nam trong giai đoạn nhiều biến động phía trước.
Theo nhận định của các doanh nghiệp, năm 2026 nhiều khả năng sẽ tiếp tục là một năm xuất khẩu thận trọng. Trung Đông được đánh giá là điểm đến ổn định, trong khi châu Phi vẫn là thị trường tiềm năng nhưng chịu áp lực lớn từ chi phí logistics và đầu vào. Các thị trường cao cấp như châu Âu, Nhật Bản và Anh còn dư địa, song yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, dư lượng và kiểm soát dịch bệnh đặt ra bài toán đầu tư dài hạn.
Song song với chiến lược đa dạng hóa thị trường, các doanh nghiệp cũng cần điều chỉnh chiến lược theo hướng nâng cao giá trị và kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn.
TS. Nguyễn Đình Bích, chuyên gia kinh tế nông nghiệp phân tích, cạnh tranh gay gắt là xu thế tất yếu. Nếu Việt Nam tiếp tục xuất khẩu gạo giá rẻ, giá trị gia tăng thấp thì sẽ rất dễ bị tổn thương trước các thay đổi chính sách. Ngược lại, nếu chuyển mạnh sang gạo chất lượng cao, gạo có thương hiệu, thì thuế tăng không còn là rào cản quá lớn. Đây là thời điểm phù hợp để giảm dần diện tích lúa chất lượng thấp, tăng tỷ trọng gạo thơm, gạo đặc sản, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường.
Theo số liệu thống kê từ Cục Hải quan, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng 12 đạt 522.387 tấn với trị giá gần 248,8 triệu USD, tăng 39,6% về lượng và 30,8% về giá trị so với tháng trước đó.
Kết quả nêu trên đã giúp xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2025 đạt gần 8,063 triệu tấn, với trị giá trên 4,1 tỷ USD, giảm 10,8% về lượng và 27,6% về giá trị xuất khẩu so với năm 2024.
Giá xuất khẩu gạo bình quân của Việt Nam năm 2025 đạt gần 509 USD/tấn, trong khi giá bình quân năm 2024 là 627,2 USD/tấn. Điều này có nghĩa, bình quân mỗi tấn gạo bán ra trong năm 2025 có giá thấp hơn năm 2024 khoảng 118,2 USD.
Trong bối cảnh còn khó khăn, ngành gạo Việt Nam vẫn ghi nhận những điểm sáng nhất định từ các thị trường mới và xa hơn.
Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế là một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, với cơ cấu chủng loại tập trung mạnh vào phân khúc gạo trắng chất lượng cao và gạo thơm, chiếm gần bảy mươi phần trăm tổng lượng xuất khẩu. Đây được xem là nền tảng quan trọng để ngành gạo thích ứng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Xét về thị trường, Philippines vẫn là khách hàng lớn nhất của gạo Việt Nam với hơn 3,2 triệu tấn, trị giá hơn 1,5 tỷ USD, tuy nhiên giảm 24% về lượng và giảm 40% về trị giá so với năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 490 USD/tấn, tương ứng mức giảm 21%.
Bờ Biển Ngà là khách hàng nhập khẩu lớn thứ 2 với hơn 1,05 triệu tấn, trị giá hơn 478 triệu USD, tăng 118% về lượng và tăng 67% về trị giá so với năm 2024. Giá nhập khẩu bình quân giảm 24%, tương ứng 453 USD/tấn,
Đứng thứ 3 là Ghana với hơn 919 nghìn tấn, trị giá hơn 513 triệu USD, tăng 50% về lượng và tăng 21% về trị giá so với năm 2024. Giá xuất khẩu ghi nhận xu hướng giảm tương tự, đạt 559 USD/tấn, tương ứng mức giảm 19%.
Xuất khẩu gạo sang các quốc gia châu Phi như Ghana hay Bờ Biển Ngà cũng tăng mạnh, có nơi ghi nhận mức tăng gấp đôi so với cùng kỳ. Dù giá bán tại các thị trường này chưa thể bù đắp hoàn toàn phần thiếu hụt từ các thị trường truyền thống, nhưng đó là minh chứng cho thấy gạo Việt Nam vẫn giữ được niềm tin về chất lượng trên bản đồ lương thực toàn cầu.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam hiện đang duy trì ổn định theo cập nhật từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 420 - 440 USD/tấn, gạo Jasmine dao động 446 - 450 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 319 - 323 USD/tấn.
Ở thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ các "đối thủ" lớn như Thái Lan và Ấn Độ. Sự trở lại mạnh mẽ của nguồn cung từ Ấn Độ đã khiến các nhà nhập khẩu lớn có xu hướng chờ đợi giá giảm thêm thay vì chốt đơn hàng ngay lập tức.
Các chuyên gia nhận định, trong ngắn hạn vài ngày tới, giá lúa gạo trong nước khó có khả năng tăng đột biến. Thị trường sẽ tiếp tục xu hướng đi ngang để chờ đợi nguồn cung dồi dào hơn khi Đồng bằng sông Cửu Long bước vào thu hoạch rộ vụ Đông Xuân. Nếu đầu ra xuất khẩu không được khơi thông, áp lực giảm giá lên người nông dân có thể sẽ gia tăng trong thời gian tới.
