Việt Nam quy định loạt điều kiện để thành lập khu thương mại tự do: Tối thiểu 1.000ha, kết nối ít nhất 2 phương thức vận tải
Theo quy định mới, khu thương mại tự do phải có quy mô tối thiểu 1.000ha, kết nối ít nhất 2 phương thức vận tải và đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, logistics, quản lý số, quốc phòng, an ninh, môi trường và hiệu quả sử dụng đất.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký ban hành Nghị định số 378/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phát triển đô thị. Trong đó, Nghị định quy định cụ thể về tiêu chí, điều kiện thành lập khu thương mại tự do.
Theo quy định, khu thương mại tự do phải đáp ứng 6 nhóm tiêu chí, điều kiện.
Thứ nhất, khu thương mại tự do phải có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển thương mại quốc tế, logistics, sản xuất và dịch vụ. Khu vực này phải gắn liền hoặc có kết nối giao thông trực tiếp với hệ thống cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế, trung tâm tài chính quốc tế, cửa khẩu quốc tế quan trọng hoặc hạ tầng logistics chiến lược khác.

Đồng thời, khu thương mại tự do phải có khả năng kết nối vận tải đa phương thức bằng ít nhất 2 phương thức trong số đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải và hàng không. Trường hợp công trình kết nối chưa hoàn thành, công trình phải thuộc quy hoạch, kế hoạch đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt và có tiến độ hoàn thành phù hợp với giai đoạn đưa khu thương mại tự do vào hoạt động.
Thứ hai, khu thương mại tự do phải có quy mô tối thiểu 1.000ha. Trường hợp được tổ chức thành các khu vực không liền kề, các khu vực này phải bảo đảm khả năng kết nối về hạ tầng, vận hành và quản lý thống nhất.
Thứ ba, việc thành lập khu thương mại tự do phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả sử dụng đất, đồng thời có tính bổ trợ và liên kết với các khu kinh tế, khu công nghiệp, trung tâm logistics và khu chức năng hiện có.
Thứ tư, khu thương mại tự do phải có kết cấu hạ tầng và phương án tổ chức các khu chức năng phù hợp với định hướng phát triển theo quy định.
Thứ năm, phải có phương án quản lý, vận hành khả thi, cơ chế phối hợp liên ngành, thực hiện một cửa liên thông và xây dựng hệ thống quản lý dựa trên dữ liệu số.
Thứ sáu, phải có phương án bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, an toàn tài chính, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu. Đồng thời, phương án thành lập phải bao gồm các giải pháp phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, rửa tiền và tội phạm công nghệ cao; quản lý rủi ro và bảo vệ môi trường.
Đồng thời, khu thương mại tự do phải có hoặc có khả năng đầu tư đồng bộ các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu. Trong đó gồm hệ thống giao thông đối ngoại, giao thông nội bộ và kết nối đa phương thức; hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải và nước thải.
Bên cạnh đó là hệ thống viễn thông, công nghệ thông tin, trung tâm dữ liệu hoặc hạ tầng số phục vụ quản lý, kinh doanh và chia sẻ dữ liệu; hệ thống kho bãi, cảng cạn và các công trình phục vụ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, trung chuyển hàng hóa.

Khu thương mại tự do cũng phải có các công trình phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an toàn, an ninh và các công trình phục vụ kiểm tra, giám sát chuyên ngành. Hạ tầng kỹ thuật phải được phân kỳ đầu tư phù hợp với tiến độ phát triển của khu thương mại tự do, đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn, đồng thời bảo đảm khả năng kết nối với hệ thống kết cấu hạ tầng của khu vực và quốc gia. Nghị định khuyến khích đầu tư hạ tầng xanh, thông minh và phát thải thấp.
Hệ thống quản lý, giám sát, điều hành khu thương mại tự do được thực hiện trên nền tảng số, kết nối và chia sẻ dữ liệu với các cơ quan quản lý chuyên ngành ở Trung ương và địa phương theo quy định của pháp luật.
Căn cứ điều kiện phát triển, khu thương mại tự do có thể được tổ chức thành một hoặc nhiều khu chức năng, gồm khu logistics tích hợp; khu công nghiệp; khu thương mại - dịch vụ; khu nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo; khu công nghệ số tập trung, trung tâm dữ liệu; khu phi thuế quan và các khu chức năng khác theo quy định của pháp luật.
Việc điều chỉnh cơ cấu các khu chức năng được thực hiện theo thẩm quyền, trên cơ sở yêu cầu phát triển, quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn và các quy định pháp luật có liên quan.
Quy trình thành lập khu thương mại tự do
Cũng theo Nghị định, UBND tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức lập Báo cáo đề xuất chủ trương thành lập khu thương mại tự do, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, cho chủ trương thực hiện.
Trên cơ sở chủ trương của cấp có thẩm quyền, UBND tỉnh, thành phố tổ chức lập Đề án thành lập khu thương mại tự do.
Sau khi đề án được lập theo quy định, cơ quan quản lý nhà nước về khu thương mại tự do lấy ý kiến của các Bộ Tài chính, Công Thương, Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường cùng các Bộ, cơ quan có liên quan.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Đề án, các Bộ, cơ quan có trách nhiệm gửi ý kiến tham gia.
Trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến của các Bộ, cơ quan, cơ quan quản lý nhà nước về khu thương mại tự do có trách nhiệm giải trình, làm rõ các ý kiến, tổ chức hoàn thiện Đề án và báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố xem xét, quyết định thành lập khu thương mại tự do.
Trường hợp khu vực dự kiến thành lập khu thương mại tự do có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh thì phải có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ban hành, quyết định thành lập khu thương mại tự do phải được gửi đến Bộ Tài chính.
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố quyết định điều chỉnh tên gọi, mục tiêu, chức năng và các nội dung khác có liên quan đến tổ chức, hoạt động của khu thương mại tự do sau khi có ý kiến của các Bộ: Tài chính, Công Thương, Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường cùng các Bộ, cơ quan có liên quan.
Nghị định số 378/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026.
