Muốn tăng trưởng GDP 10% mỗi năm, Việt Nam cần huy động bao nhiêu vốn?
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% mỗi năm, Việt Nam cần nguồn vốn đầu tư khổng lồ. TS. Cấn Văn Lực đã đưa ra những tính toán đáng chú ý.
Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng vai trò thế nào trong tăng trưởng GDP?
Tại Hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng” do Kênh tin Người Quan sát tổ chức tại Hà Nội sáng 22/10, TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia – đã trình bày nghiên cứu về các giải pháp đột phá nhằm huy động tài lực cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Để thực hiện các mục tiêu này, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nhanh, bền vững và bao trùm trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường là yêu cầu bắt buộc.
Ông nhấn mạnh nền kinh tế cần chuyển dịch từ mô hình chủ yếu dựa vào vốn và lao động sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế. Đáng chú ý, thay vì tuần tự đi từ đầu tư, lan tỏa đến đổi mới sáng tạo theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam cần lựa chọn chiến lược đi tắt đón đầu bằng cách kết hợp đồng thời cả ba yếu tố này.
Nhìn lại kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các quốc gia châu Á trong thời kỳ tăng trưởng 2 con số, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra rằng những nền kinh tế thành công đều ghi nhận tỷ trọng đóng góp lớn từ TFP và vốn đầu tư.
Cụ thể, trong các giai đoạn cất cánh, đóng góp của TFP vào tăng trưởng tại Nhật Bản đạt 49,5%, Singapore đạt 46,7%, Hàn Quốc đạt 37,8%, Trung Quốc đạt 35,6%, Đài Loan đạt 33,9% và Malaysia đạt 30%.
Song song với đó, vốn đầu tư cũng đóng góp tỷ trọng lớn vào tăng trưởng, với Trung Quốc đạt 58,7%, Hàn Quốc đạt 50,1%, Đài Loan đạt 49,1%, Malaysia đạt 44,2%, Nhật Bản đạt 42,7% và Singapore đạt 37,8%.

Đối chiếu với thực tiễn Việt Nam giai đoạn 1991–2025, TS. Cấn Văn Lực phân tích vốn luôn đóng vai trò chủ đạo trong tăng trưởng. Cụ thể, vốn đóng góp 54,7% trong giai đoạn 2001–2010, đạt 60,2% năm 2021, 51,7% năm 2023, 49,9% năm 2024 và dự báo đạt 44,1% năm 2025.
Trong khi đó, tỷ trọng đóng góp của TFP biến động qua các thời kỳ, từ 58,3% trong giai đoạn 1991–2000 giảm xuống 27,1% giai đoạn 2001–2010, sau đó phục hồi lên 40,4% giai đoạn 2011–2020, đạt 45,5% năm 2024 và ước đạt 47% năm 2025.
Những số liệu này cho thấy việc huy động và phân bổ tài lực hợp lý, hiệu quả tiếp tục là bài toán có tính quyết định đối với triển vọng phát triển của nền kinh tế.

Hai kịch bản tăng trưởng GDP Việt Nam và bài toán huy động vốn
Trên cơ sở tính toán của Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV, TS. Cấn Văn Lực đưa ra hai kịch bản phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam giai đoạn 2026–2030.
Ở kịch bản thứ nhất, GDP tăng trưởng bình quân 9%/năm, quy mô GDP trung bình đạt 675 tỷ USD và GNI bình quân đầu người đạt 7.600 USD. Tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng đạt 51%, trong khi vốn đóng góp 41–43%. Tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 11–13%/năm, tương ứng quy mô vốn khoảng 260–280 tỷ USD/năm.
Ở kịch bản thứ hai, với mục tiêu phấn đấu cao hơn, GDP tăng trưởng 10%/năm, quy mô GDP trung bình đạt 695 tỷ USD và GNI bình quân đầu người đạt 8.000 USD. Tỷ trọng đóng góp của TFP tăng lên 53–55%, vốn đóng góp 40–42%. Tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 13–15%/năm, tương ứng quy mô 280–300 tỷ USD/năm.
Cả hai kịch bản đều đòi hỏi tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP duy trì ở mức cao, từ 36% đến 39%.
Đối với giai đoạn 2031–2045, ông Lực dự báo GDP tăng trưởng 8%/năm, quy mô GDP đạt 1.545 tỷ USD và GNI bình quân đầu người đạt 21.700–22.900 USD. Tỷ trọng đóng góp của TFP dự kiến lên tới 57–59%, trong khi quy mô vốn đầu tư toàn xã hội bình quân đạt 500 tỷ USD/năm.
Tính chung giai đoạn 2026–2030, TS. Cấn Văn Lực tính toán tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1.467 tỷ USD. Như vậy, mỗi năm nền kinh tế cần huy động bình quân khoảng 7,7 triệu tỷ đồng, tương đương 40% GDP danh nghĩa.
Về cơ cấu nguồn vốn trong giai đoạn này, khu vực tư nhân trong nước sẽ giữ vai trò nòng cốt với 25,5 triệu tỷ đồng, chiếm 65,5%. Khu vực Nhà nước đóng góp 8,5 triệu tỷ đồng, chiếm 22%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 4,8 triệu tỷ đồng, chiếm 12,5%.

Để hiện thực hóa các kịch bản tăng trưởng trên, bài toán đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là huy động đủ nguồn vốn đầu tư mà còn phải nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế.
Đặc biệt, trong bối cảnh khu vực tư nhân trong nước được kỳ vọng đóng góp hơn 65% tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026–2030, việc khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất sẽ có ý nghĩa quan trọng.
Như vậy, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm không chỉ đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn mà còn đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, từ dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế.
Ban Tổ chức xin trân trọng cảm ơn các đơn vị đồng hành, các cơ quan báo chí và các đối tác tài chính - doanh nghiệp: Techcombank, DOJI, MIK Group, OCB, BIM Group, Đông Tây Land, MB, Petrovietnam, Petrolimex, Vinaconex…
Sự ủng hộ và đồng hành của Quý vị là nguồn lực vô cùng quan trọng để kiến tạo nên một diễn đàn thảo luận chất lượng, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển bứt phá của nền kinh tế Việt Nam.