Tài chính Ngân hàng

Nam A Bank cùng VIFC-HCMC tìm lời giải cho 'mắt xích đứt gãy' của dòng vốn xanh

Đăng Long 06/08/2026 10:12

Từ chuẩn hóa dự án đến giảm rủi ro và dữ liệu, các chuyên gia chỉ ra những mắt xích cần hoàn thiện để vốn xanh thực sự đi vào nền kinh tế.

Tiếp nối phiên khai mạc Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam 2026, các tham luận chuyên sâu trong sáng 6/8 tập trung làm rõ một nghịch lý: nguồn vốn xanh toàn cầu đang mở rộng nhanh, nhu cầu đầu tư của Việt Nam rất lớn, nhưng khoảng cách từ một dự án có yếu tố môi trường đến một tài sản đủ tiêu chuẩn thu hút nhà đầu tư quốc tế vẫn còn đáng kể.

Những vấn đề được đặt ra tại hội nghị cho thấy, việc khơi thông vốn xanh không thể chỉ dựa vào tín dụng hay phát hành thêm một số sản phẩm được “gắn nhãn xanh”. Thị trường cần một hệ sinh thái đủ khả năng chuẩn hóa dự án, chia sẻ rủi ro, đo lường tác động và kết nối nguồn vốn trong nước với nhà đầu tư quốc tế.

screenshot-2026-08-06-114325.png
Tiết mục văn nghệ mở màn múa "Vũ khúc tâm thanh" do đội văn nghệ Nam A Bank biểu diễn

Không thiếu tiêu chuẩn, thiếu cơ chế chuyển hóa dự án thành tài sản đầu tư

Trình bày tham luận về kiến tạo hệ sinh thái tài chính xanh tại VIFC-HCMC, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM, cho biết Việt Nam cần bổ sung khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư đến năm 2040 để theo đuổi tăng trưởng có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và thực hiện lộ trình phát thải ròng bằng 0.

ktck.1cdn.vn-2026-08-06-_screenshot-2026-08-06-100758(1).png
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM

Ở phạm vi rộng hơn, nhu cầu tài chính dành cho thích ứng biến đổi khí hậu tại các quốc gia đang phát triển đến năm 2035 được ước tính cao gấp 12-14 lần dòng vốn công quốc tế hiện nay. Trong khi đó, chi phí vốn của nhiều dự án năng lượng sạch tại các thị trường mới nổi có thể cao ít nhất gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và Trung Quốc.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, vấn đề không còn nằm ở câu hỏi thị trường đã có tiêu chuẩn xanh hay chưa, mà là chủ thể nào sẽ giúp dự án đạt trạng thái sẵn sàng huy động vốn, chia sẻ rủi ro ban đầu, đo lường hiệu quả và tạo thanh khoản sau phát hành.

Chuỗi chuyển đổi vốn xanh hiện có thể bị gián đoạn tại nhiều điểm, từ cam kết khí hậu, chuẩn bị dự án, giảm thiểu rủi ro, đo lường - báo cáo - thẩm định, huy động vốn cho đến giao dịch trên thị trường thứ cấp. Chỉ cần một mắt xích thiếu đồng bộ, chi phí vốn sẽ tăng lên hoặc giao dịch không thể hoàn tất.

Từ thực tế này, VIFC-HCMC được đề xuất định vị là một trung tâm chuyển hóa vốn xanh, thay vì chỉ trở thành một địa điểm niêm yết thêm các sản phẩm tài chính. Trung tâm cần có khả năng biến nhu cầu chuyển đổi của doanh nghiệp và các dự án hạ tầng thành tài sản được chuẩn hóa, giảm thiểu rủi ro, đo lường tác động và có thể giao dịch xuyên biên giới.

So sánh với các trung tâm tài chính tại London, Singapore, Hong Kong, Luxembourg và Abu Dhabi, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng những thị trường này đã hình thành tương đối đầy đủ các cấu phần về tiêu chuẩn, công bố thông tin và phân phối sản phẩm. Khoảng trống mà VIFC-HCMC có thể tập trung giải quyết nằm ở khu vực “thượng nguồn”, gồm chuẩn bị dự án, cấu trúc dòng tiền và đưa dự án đạt điều kiện tiếp cận nhà đầu tư.

Theo lộ trình được đề xuất, giai đoạn đầu cần ưu tiên xây dựng hệ thống phân loại xanh và chuyển đổi có khả năng tương thích quốc tế; đồng thời lựa chọn khoảng 10 dự án thí điểm thuộc nhiều lĩnh vực. Trong 6-18 tháng tiếp theo, thị trường có thể hình thành cơ sở chuẩn bị dự án, triển khai các cơ chế bảo lãnh và thực hiện từ 3-5 giao dịch tiêu biểu.

Ba mô hình được đề xuất để chứng minh khả năng vận hành của hệ sinh thái gồm chương trình trái phiếu hạ tầng xanh TP.HCM, quỹ thích ứng và chống chịu biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long, cùng cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro khí hậu.

Bộ chỉ tiêu tham khảo đặt mục tiêu huy động khoảng 500 triệu USD vốn xanh và vốn chuyển đổi trong 12 tháng đầu, tăng lên 2-3 tỷ USD vào cuối năm 2027 và trên 10 tỷ USD vào năm 2030. Đây là các mục tiêu đề xuất, cần tiếp tục được điều chỉnh theo nguồn lực thực tế, khả năng cung cấp vốn ưu đãi và sự tham gia của các đối tác bảo lãnh.

Ngân hàng là kênh truyền dẫn vốn xanh vào nền kinh tế thực

Ở góc nhìn quốc tế, ông Paul Xavier, Cán bộ Chương trình tại Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), cho biết vốn xanh đã chuyển từ một phân khúc ngách thành nguồn lực quan trọng của thị trường tài chính toàn cầu.

Đến quý I/2026, tổng giá trị phát hành lũy kế của các loại trái phiếu bền vững có nhãn trên toàn cầu đạt khoảng 7.250 tỷ USD. Quy mô tài sản do các quỹ đầu tư bền vững quản lý đạt khoảng 3.510 tỷ USD. Tuy nhiên, các thị trường mới nổi mới đóng góp khoảng 15% lượng phát hành trái phiếu bền vững toàn cầu, cho thấy dòng vốn vẫn chưa được phân bổ tương xứng với nhu cầu chuyển đổi.

[LIVE] Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam 2026 - Ảnh 2.
Ông Paul Xavier - Cán bộ Chương trình, Tổ chức Tài chính Quốc tế - IFC (World Bank)

Một thay đổi đáng chú ý là lợi thế về lãi suất của trái phiếu xanh, thường được gọi là “greenium”, không còn rõ rệt như trước. Vì vậy, nhiều quốc gia Đông Nam Á đang chuyển sang giảm chi phí phát hành thông qua hỗ trợ phí đánh giá độc lập, phí đăng ký, ưu đãi thuế hoặc cơ chế hỗ trợ lãi suất, thay vì chỉ kỳ vọng nhà đầu tư chấp nhận mức sinh lời thấp hơn cho tài sản xanh.

Tham luận của đại diện IFC cũng nhấn mạnh tài chính chuyển đổi đang trở thành trụ cột thứ hai bên cạnh tài chính xanh truyền thống. Nếu tài chính xanh chủ yếu cấp vốn cho các dự án vốn đã đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, tài chính chuyển đổi hướng dòng tiền tới các ngành phát thải cao như thép, xi măng, hóa chất và vận tải, với điều kiện doanh nghiệp có lộ trình giảm phát thải, KPI và cơ chế giám sát đủ rõ ràng.

Bên cạnh đó, tài chính xanh lam đang mở ra dư địa mới. Đến tháng 6/2025, quy mô phát hành lũy kế của thị trường trái phiếu xanh lam toàn cầu đạt khoảng 15,25 tỷ USD, tăng hơn 800 lần so với giai đoạn đầu. Riêng Đông Nam Á được ước tính có khoảng trống tài chính khoảng 2.100 tỷ USD cho kinh tế biển, đặc biệt tại các lĩnh vực phát triển ven biển và hạ tầng kiểm soát ô nhiễm.

Tại Việt Nam, dư nợ tín dụng xanh cuối năm 2025 đạt gần 780.000 tỷ đồng, tăng khoảng 14,62% so với cùng kỳ và chiếm 4,19% tổng dư nợ nền kinh tế. Tín dụng xanh duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 22-23% mỗi năm trong giai đoạn 2017-2025, trong đó các ngân hàng thương mại cung cấp khoảng 88% tổng dư nợ.

Các số liệu trên cho thấy ngân hàng đang giữ vai trò kênh truyền dẫn chủ yếu, đưa mục tiêu và chính sách xanh thành dòng vốn đi vào doanh nghiệp, dự án hạ tầng và các hoạt động sản xuất cụ thể. Tuy nhiên, để mở rộng quy mô, ngân hàng không chỉ cần nguồn vốn dài hạn mà còn phải xây dựng năng lực nhận diện dự án, đánh giá rủi ro khí hậu, theo dõi dữ liệu ESG và đo lường hiệu quả sau giải ngân.

Đây cũng là hướng đi Nam A Bank đang từng bước triển khai thông qua việc mở rộng hợp tác với các định chế tài chính phát triển, phát triển tài trợ chuỗi cung ứng xanh và đưa tài chính toàn diện vào chiến lược bền vững. Cách tiếp cận này hướng tới nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ - khu vực thường gặp nhiều hạn chế về dữ liệu, chi phí tư vấn và khả năng chuẩn hóa hồ sơ theo yêu cầu quốc tế.

Từ nhu cầu 22.700 tỷ USD đến cơ chế buộc dòng vốn đi đúng hướng

Tiếp nối các phiên tham luận tại Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam 2026, ông Pradeep Ramakrishnan, Giám đốc Điều hành Cơ quan Quản lý Dịch vụ Tài chính Quốc tế Ấn Độ (IFSCA), đã chia sẻ kinh nghiệm phát triển tài chính bền vững tại GIFT City - trung tâm tài chính quốc tế được xây dựng để kết nối nền kinh tế Ấn Độ với thị trường vốn toàn cầu.

Tham luận “Financing India’s Net-Zero Transition” cho thấy, để dòng vốn xanh hình thành đủ lớn, thị trường không thể chỉ dừng ở tuyên bố phát triển bền vững. Mục tiêu khí hậu cần được cụ thể hóa thành tiêu chuẩn sản phẩm, tỷ lệ phân bổ vốn, nghĩa vụ công bố thông tin, cơ chế đánh giá độc lập và một hạ tầng tài chính có khả năng đưa nguồn vốn quốc tế vào những dự án đáp ứng điều kiện.

Kinh nghiệm từ GIFT City vì vậy mang nhiều hàm ý đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC). Đây cũng là chủ đề được Nam A Bank cùng các đối tác đưa vào chương trình hội nghị, nhằm tìm kiếm những mô hình có thể rút ngắn khoảng cách từ định hướng chính sách đến giao dịch thực tế.

Theo tham luận của ông Pradeep Ramakrishnan, Ấn Độ đang theo đuổi đồng thời hai mục tiêu lớn: trở thành nền kinh tế phát triển vào năm 2047 và đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2070. Quy mô GDP của quốc gia này được dự báo tăng khoảng 11 lần đến năm 2070, trong khi tổng nhu cầu năng lượng chỉ tăng khoảng 2-2,6 lần.

Điểm đáng chú ý là quá trình chuyển đổi không được đặt trong thế đánh đổi với tăng trưởng. Thay vào đó, Ấn Độ hướng tới tách dần tăng trưởng kinh tế khỏi phát thải thông qua điện khí hóa, nâng cao hiệu quả năng lượng, mở rộng năng lượng tái tạo, phát triển điện hạt nhân, hydrogen xanh và công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon.

Trong kịch bản phát thải ròng bằng 0, tỷ trọng nhiên liệu hóa thạch trong tổng năng lượng sơ cấp của Ấn Độ được dự báo giảm từ 87% năm 2025 xuống còn 14% vào năm 2070. Điện sẽ chiếm khoảng 60% nhu cầu năng lượng cuối cùng, trong khi năng lượng mặt trời có thể chiếm 72-77% tổng công suất nguồn điện.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đòi hỏi một lượng vốn đặc biệt lớn. Tổng nhu cầu đầu tư lũy kế đến năm 2070 theo kịch bản phát thải ròng bằng 0 được ước tính khoảng 22.700 tỷ USD, cao hơn khoảng 8.100 tỷ USD so với kịch bản duy trì chính sách hiện hành.

Trong số này, Ấn Độ có khả năng huy động khoảng 16.200 tỷ USD, để lại khoảng trống vốn ước tính 6.530 tỷ USD. Dòng vốn đầu tư hằng năm cần tăng từ khoảng 135 tỷ USD hiện nay lên khoảng 500 tỷ USD vào năm 2070. Riêng lĩnh vực điện lực chiếm hơn một nửa tổng nhu cầu đầu tư.

Tại GIFT City, IFSCA đã ban hành khung hướng dẫn về cho vay xanh, cho vay xã hội, cho vay bền vững và cho vay gắn với phát triển bền vững. Các ngân hàng và công ty tài chính hoạt động trong Trung tâm Dịch vụ Tài chính Quốc tế phải xây dựng chính sách được hội đồng quản trị phê duyệt, đồng thời dành tối thiểu 5% phần dư nợ tăng thêm mỗi năm cho các lĩnh vực hoặc khoản vay bền vững.

Các tổ chức tài chính cũng phải báo cáo định kỳ sáu tháng một lần với cơ quan quản lý. Việc đặt ra một tỷ lệ cụ thể giúp tài chính bền vững chuyển từ cam kết tự nguyện thành một cấu phần có thể theo dõi trong hoạt động cấp tín dụng.

Theo số liệu được trình bày tại hội nghị, quy mô cho vay xanh, xã hội, bền vững và liên kết bền vững của các ngân hàng tại GIFT IFSC trong năm tài chính 2025-2026 đạt khoảng 6,28 tỷ USD, tăng mạnh so với mức 3,39 tỷ USD của năm trước.

Bên cạnh tín dụng, GIFT City đang xây dựng thị trường tài chính bền vững trên bốn lớp gồm sản phẩm, tiêu chuẩn, đánh giá độc lập và công bố thông tin.

Đối với thị trường vốn, GIFT IFSC đã hình thành khung niêm yết cho trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội, trái phiếu bền vững và trái phiếu liên kết bền vững. Tổng giá trị chứng khoán nợ gắn nhãn ESG niêm yết lũy kế tại đây đến năm tài chính 2026 đạt khoảng 16,8 tỷ USD, tăng so với mức 15,43 tỷ USD một năm trước.

Trong cơ cấu này, trái phiếu xanh chiếm 57%, tương đương khoảng 9,47 tỷ USD; trái phiếu xã hội chiếm 25%, tương đương 4,26 tỷ USD; trái phiếu bền vững chiếm 14%, tương đương 2,3 tỷ USD; còn trái phiếu liên kết bền vững chiếm khoảng 4%, tương đương 700 triệu USD.

Các đợt phát hành phải xác định rõ mục tiêu ESG, quy trình lựa chọn dự án và phương án sử dụng vốn trước phát hành. Sau khi huy động, tổ chức phát hành tiếp tục phải công bố báo cáo phân bổ vốn, tình hình sử dụng vốn và tác động tạo ra. Đối với trái phiếu liên kết bền vững, doanh nghiệp phải báo cáo kết quả thực hiện KPI, mục tiêu phát triển bền vững và có đánh giá độc lập.

Điểm mới đáng chú ý trong kinh nghiệm của Ấn Độ là khung trái phiếu chuyển đổi dành cho các ngành chưa thể “xanh” ngay lập tức như thép, xi măng, hóa chất, hàng không và vận tải biển.

Theo khung do IFSCA xây dựng, doanh nghiệp phát hành phải có kế hoạch chuyển đổi đáng tin cậy, phù hợp với Thỏa thuận Paris. Kế hoạch này cần thể hiện lộ trình giảm phát thải, chương trình hành động, mục tiêu dựa trên cơ sở khoa học, cơ chế quản trị, tham vấn các bên liên quan và tính minh bạch.

Dự án cũng phải tham chiếu các hệ thống phân loại hoặc lộ trình công nghệ được quốc tế công nhận. Bên cạnh đó là cơ chế đánh giá độc lập thông qua ý kiến của bên thứ hai, xác minh hoặc chứng nhận, cùng nghĩa vụ công bố thông tin ban đầu và hằng năm.

Theo Kiến thức đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/live-hoi-nghi-tai-chinh-xanh-viet-nam-2026-1460464.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Nam A Bank cùng VIFC-HCMC tìm lời giải cho 'mắt xích đứt gãy' của dòng vốn xanh
    POWERED BY ONECMS & INTECH