Người được mệnh danh là 'ông tổ' của nghề báo: Tiên phong phổ cập chữ Quốc ngữ, sang Lào để tìm vàng trả nợ, qua đời trên con thuyền độc mộc trôi giữa sông
Ông quyết định từ bỏ con đường công chức vốn ổn định để dấn thân vào lĩnh vực báo chí, xuất bản, dịch thuật và truyền bá chữ Quốc ngữ, trở thành chủ bút, chủ nhiệm của nhiều tờ báo nổi tiếng.
Lịch sử văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX ghi nhận nhiều gương mặt tiên phong trên hành trình canh tân đất nước. Trong số đó, Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936) là một trường hợp đặc biệt. Ông vừa là nhà báo, nhà văn, nhà dịch thuật, doanh nhân xuất bản, nhà hoạt động xã hội, đồng thời là một trí thức có tư tưởng cải cách mạnh mẽ.
Hơn 3 thập niên hoạt động liên tục, học giả Nguyễn Văn Vĩnh để lại dấu ấn sâu đậm trong nhiều lĩnh vực. Ông là người đứng sau sự ra đời của hàng loạt tờ báo có vai trò nền tảng đối với báo chí Việt Nam hiện đại, là người tiên phong trong việc dịch thuật các tác phẩm kinh điển phương Tây sang chữ Quốc ngữ, đồng thời là một trong những nhân vật có công lớn nhất trong quá trình phổ cập loại chữ viết đã trở thành Quốc tự của dân tộc ngày nay.
Người dành cả đời để đưa chữ Quốc ngữ đến với người Việt
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại làng Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội. Gia đình nghèo khó khiến tuổi thơ của ông gắn với những ngày chăn bò thuê ở bãi Long Biên ven sông Hồng.

Bước ngoặt đầu tiên đến khi thân phụ của ông xin cho con trai vào kéo quạt tại một lớp đào tạo thông ngôn của người Pháp tổ chức ở đình làng Yên Phụ. Trong 2 năm ngồi bên ngoài lớp học, cậu bé Nguyễn Văn Vĩnh lặng lẽ học lỏm những kiến thức được truyền giảng cho các học viên lớn tuổi.
Năng lực đặc biệt của cậu học trò nghèo nhanh chóng thu hút sự chú ý của giáo viên người Pháp André d’Argence. Khi khóa học kết thúc, Nguyễn Văn Vĩnh được tạo điều kiện dự thi cùng các học viên chính thức và đỗ thứ 12 trong số 40 người dự thi.
10 tuổi đỗ thông ngôn nhưng chưa đủ tuổi làm việc, ông tiếp tục được cho theo học lại từ đầu mà không phải đóng học phí. 4 năm sau, Nguyễn Văn Vĩnh tốt nghiệp với vị trí thủ khoa.
Năm 15 tuổi, ông được đặc cách làm thông ngôn tại Tòa sứ Lào Cai. Sau đó, Nguyễn Văn Vĩnh lần lượt công tác tại Hải Phòng, Bắc Giang cũ rồi Hà Nội. Trong thời gian này, ông không ngừng tự học, hoàn thành chương trình phổ thông bằng tiếng Pháp, đồng thời trau dồi thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Chính môi trường làm việc cùng khả năng ngoại ngữ xuất sắc đã mở ra cho Nguyễn Văn Vĩnh cơ hội tiếp xúc với kho tàng sách báo, tư tưởng và tri thức phương Tây.
Năm 1906, khi đang công tác tại Tòa Đốc lý Hà Nội, Nguyễn Văn Vĩnh được cử sang Pháp tham dự Triển lãm Thuộc địa ở Marseille và khảo sát hoạt động báo chí, xuất bản tại Paris. Chuyến đi này được nhiều nhà nghiên cứu xem là cột mốc quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp của ông.
Lần đầu tiên tận mắt chứng kiến sức mạnh của báo chí, công nghệ in ấn hiện đại và vai trò của tri thức trong sự phát triển xã hội, Nguyễn Văn Vĩnh nhận ra con đường mà mình muốn theo đuổi. Trong một bức thư gửi nhà văn Phạm Duy Tốn từ Marseille ngày 27/6/1906, ông bày tỏ niềm tin mãnh liệt vào việc xây dựng một tương lai mới thông qua giáo dục và truyền bá tri thức.
Trở về nước, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định từ bỏ con đường công chức vốn ổn định để dấn thân vào lĩnh vực báo chí và xuất bản. Trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, đây là lựa chọn đầy rủi ro bởi ngành in ấn ở Việt Nam khi ấy còn rất sơ khai. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh tin rằng muốn nâng cao dân trí thì trước hết phải tạo ra một hệ thống truyền thông có khả năng tiếp cận đông đảo người dân.
Điều khiến Nguyễn Văn Vĩnh khác biệt với nhiều trí thức cùng thời là ông sớm nhìn thấy tiềm năng của chữ Quốc ngữ. Trong khi chữ Hán và chữ Nôm vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống học thuật, Nguyễn Văn Vĩnh nhận ra rằng hệ chữ cái Latin hóa dễ học hơn rất nhiều, phù hợp với mục tiêu mở rộng giáo dục cho đại bộ phận người dân.
Ông dành nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và chứng minh tính ưu việt của chữ Quốc ngữ thông qua báo chí, sách vở và các hoạt động xã hội. Ông đã truyền bá chữ Quốc ngữ với một câu nói nổi tiếng: “Nước Nam ta mai sau này hay dở, là ở chữ Quốc ngữ”.

Ông không cổ vũ chữ Quốc ngữ bằng những lời kêu gọi đơn thuần mà bằng hành động cụ thể. Hàng loạt sách dịch, báo chí, chuyên mục giáo dục, khảo cứu và văn học được xuất bản bằng Quốc ngữ nhằm tạo ra nhu cầu đọc trong xã hội. Theo quan niệm của Nguyễn Văn Vĩnh, khi người dân thấy được lợi ích của việc đọc và học, chữ Quốc ngữ sẽ tự nhiên trở thành công cụ giao tiếp phổ biến nhất.
Từ năm 1900 đến năm 1920, ông dịch hàng loạt các tác phẩm tiến bộ của văn học Pháp ra chữ Quốc ngữ: Các tác phẩm của La Fontaine, V.Hugo, A.Dumas, H.de.Balzac, Molière… Năm 1913, ông cũng là người dịch toàn bộ “Truyện Kiều” từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ.
Dưới thời Toàn quyền Jean Baptiste Paul Beau 1902-1908, nhờ sự giúp đỡ của Hauser, Nguyễn Văn Vĩnh cùng với các bạn đồng chí hướng, lần lượt làm đơn xin thành lập Hội Trí Tri (Hà Nội), Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp du học…. Ông là người thảo điều lệ, viết đơn xin phép thành lập Trường Đông Kinh nghĩa thục, sau đó trở thành giáo viên dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp của trường.
Trong số rất nhiều tờ báo mà ông là người sáng lập, trở thành chủ bút hay chủ nhiệm, có tờ tuần báo Đông Dương Tạp Chí được đánh giá là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam dạy người dân cách làm văn bằng chữ Quốc ngữ.
Người mở đường cho nền báo chí hiện đại
Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đứng ra điều hành Đăng Cổ Tùng Báo - một trong những tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ. Trên tờ báo này, ông vừa viết xã luận, bình luận thời sự, vừa mở các chuyên mục về đời sống xã hội, phụ nữ, giáo dục, văn học. Nhiều bài viết ký bút danh Tân Nam Tử hay Mũi Tẹt Tử đã gây tiếng vang lớn trong dư luận đương thời.

Sau Đăng Cổ Tùng Báo là Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn và L’Annam Nouveau.
Đặc biệt, Đông Dương Tạp Chí ra đời năm 1913 được xem là diễn đàn trí thức quan trọng bậc nhất thời bấy giờ. Nguyễn Văn Vĩnh đã tập hợp được lực lượng cộng tác viên gồm nhiều học giả hàng đầu như Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố, Tản Đà, Trần Trọng Kim… Thông qua diễn đàn này, những giá trị của Hán học truyền thống được đối thoại với các tư tưởng mới từ phương Tây, tạo nên một không gian học thuật có ảnh hưởng sâu rộng.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn hiện đại” đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh là người có công lớn trong việc gây dựng phong trào yêu mến Quốc văn ở tầng lớp thanh niên trí thức đầu thế kỷ XX.
Năm 1917, ông tiếp tục đảm nhận vai trò chủ bút Trung Bắc Tân Văn - một trong những tờ nhật báo đầu tiên của báo chí Việt Nam. Đây là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển từ báo chí định kỳ sang mô hình báo chí hằng ngày.
Song song với hoạt động báo chí, Nguyễn Văn Vĩnh còn là một dịch giả xuất sắc. Trong hơn 30 năm lao động, ông đã dịch hàng chục tác phẩm lớn của văn học và tư tưởng phương Tây sang tiếng Việt. Độc giả Việt Nam lần đầu tiên được tiếp cận các tác giả như Victor Hugo, Alexandre Dumas, Honoré de Balzac, Molière, La Fontaine, Jean-Jacques Rousseau, Blaise Pascal hay François Rabelais thông qua các bản dịch của ông.

Những tác phẩm nổi bật gồm “Những kẻ khốn nạn”, “Miếng da lừa”, “Ba chàng ngự lâm pháo thủ”, “Người bệnh tưởng”, “Manon Lescaut” và các truyện ngụ ngôn của La Fontaine. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bản dịch bài “Con ve và con kiến” của Nguyễn Văn Vĩnh với nhịp điệu và cách gieo vần mới mẻ đã mở ra những thử nghiệm sớm cho phong trào Thơ mới sau này.
Năm 1927, ông cùng E. Vayrac thành lập Tủ sách Âu Tây tư tưởng để xuất bản hàng loạt công trình dịch thuật có giá trị, góp phần đưa tri thức phương Tây đến gần hơn với công chúng Việt Nam.
Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền Pháp năm 1906. Ông cũng là người Việt Nam duy nhất cùng 4 thành viên người Pháp ký đơn yêu cầu nhà cầm quyền tha cho Phan Châu Trinh khi nhà yêu nước này bị kết án đày ra Côn Đảo. Mối quan hệ giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Châu Trinh được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là sự gặp gỡ về tư tưởng cải cách xã hội, đề cao dân trí, dân quyền.
Năm 1906, chính Nguyễn Văn Vĩnh là người dịch sang tiếng Pháp bức thư nổi tiếng của Phan Châu Trinh gửi Toàn quyền Đông Dương Jean Baptiste Paul Beau nhằm truyền tải những kiến nghị cải cách đối với xã hội Việt Nam. Đến năm 1926, trong một cuộc thẩm vấn của cơ quan an ninh thuộc địa, Nguyễn Văn Vĩnh công khai bày tỏ sự kính trọng đối với Phan Bội Châu và gọi ông là một người anh hùng luôn trung thành với lý tưởng của mình.
Bên cạnh vai trò học giả và nhà báo, Nguyễn Văn Vĩnh còn là một doanh nhân năng động hiếm thấy trong giới trí thức đương thời. Ông xây dựng hệ thống nhà in, nhà xuất bản, công ty phát hành sách báo với quy mô lớn. Nhà in Trung Bắc Tân Văn, Nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn và Công ty Vĩnh Phúc Thành từng là những cơ sở in ấn hiện đại bậc nhất ở Bắc Kỳ.
Để nâng cao chất lượng xuất bản, Nguyễn Văn Vĩnh nhiều lần sang châu Âu tìm hiểu công nghệ in mới. Ông bán thiết bị cũ, thế chấp tài sản, vay vốn để nhập máy móc hiện đại về Việt Nam. Ngoài lĩnh vực báo chí và xuất bản, ông còn mở rộng hoạt động sang nhiều ngành nghề khác như sản xuất nước giải khát, kinh doanh khách sạn, khai khẩn đất đai, phát triển đồn điền và thương mại.

Đằng sau các hoạt động kinh doanh ấy vẫn là mục tiêu phục vụ sự nghiệp văn hóa. Nguồn thu từ doanh nghiệp giúp ông duy trì hoạt động báo chí, xuất bản và dịch thuật trong thời gian dài.
Chuyến đi cuối cùng và đám tang của “Ông tổ nghề báo”
Tuy nhiên, tham vọng hiện đại hóa ngành in cũng đẩy Nguyễn Văn Vĩnh vào vòng xoáy nợ nần. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới giai đoạn 1930 - 1932 khiến nhiều doanh nghiệp Đông Dương lao đao. Các cơ sở kinh doanh của ông cũng chịu tác động nặng nề. Từ một trong những doanh nhân xuất bản thành công nhất thời bấy giờ, Nguyễn Văn Vĩnh dần rơi vào hoàn cảnh kiệt quệ.
Đầu năm 1936, trước áp lực tài chính ngày càng lớn, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định sang Lào tìm vàng với hy vọng có thể trả nợ và duy trì các cơ sở báo chí do mình gây dựng. Đó là quyết định khiến nhiều bạn bè và người thân lo lắng. Ở tuổi 54, ông vẫn chấp nhận dấn thân vào vùng rừng núi hiểm trở bên dòng Sê Pôn.
Ngày 1/5/1936, người ta phát hiện Nguyễn Văn Vĩnh trên một chiếc thuyền độc mộc trôi giữa dòng Sê Băng Hiêng - một nhánh của sông Sê Pôn. Theo nhiều ghi chép, một tay ông vẫn giữ cây bút, tay còn lại cầm cuốn sổ ghi chép dở dang cho thiên ký sự "Một tháng với những người đi tìm vàng". Nhà cầm quyền sau đó thông báo ông qua đời vì sốt rét và kiết lỵ.

Sự ra đi đột ngột của Nguyễn Văn Vĩnh gây chấn động giới trí thức và báo chí Đông Dương. Không ít người xem đó là dấu chấm hết đầy bi kịch cho cuộc đời một con người đã dành toàn bộ sức lực cho sự nghiệp văn hóa và báo chí.
Sau đó, thi hài Nguyễn Văn Vĩnh đã được Hội Tam điểm tổ chức đưa về Hà Nội. Từ ngày 6 đến 8/5/1936, hàng vạn người thuộc nhiều tầng lớp xã hội đã đến tiễn biệt ông. Giới báo chí của cả 3 kỳ đặt trước linh cữu dòng chữ ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa: “Kính viếng Ông tổ của nghề báo”.
Nguyễn Văn Vĩnh có 3 người vợ và 15 người con. Đại gia đình Nguyễn Văn Vĩnh quy tụ nhiều nhân vật tài năng trong nhiều lĩnh vực. Năm 2016, nhân kỷ niệm 80 năm ngày mất của ông, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh cùng gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh đã tổ chức lễ tưởng niệm và tôn vinh ông là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhiều công trình báo chí, xuất bản và dịch thuật do Nguyễn Văn Vĩnh khởi xướng vẫn được nhắc tới như những cột mốc quan trọng của tiến trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam.
* Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Người khởi động nền văn chương Quốc ngữ - Báo Quân đội nhân dân
- Nhà văn hóa tiên phong Nguyễn Văn Vĩnh - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
- Học giả Nguyễn Văn Vĩnh là ai? - Báo Vietnamnet
- Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh - một ngòi bút đa sắc - Báo Đại đoàn kết
