Việt Nam sở hữu một ngôi làng 'vẽ ra quan' gần 1.000 năm tuổi, từng được báo Mỹ ca ngợi, có đặc sản nem chua nổi tiếng
Nơi đây là một trong những làng khoa bảng tiêu biểu của Thăng Long xưa, có 22 vị đỗ tiến sĩ, bảng nhãn, phó bảng cùng hơn 400 cử nhân, tú tài.
Cách trung tâm Hà Nội không xa, làng cổ Đông Ngạc (hay còn gọi là làng Vẽ, nay thuộc phường Đông Ngạc) là một trong số ít ngôi làng vẫn lưu giữ gần như nguyên vẹn diện mạo của làng quê Bắc Bộ xưa. Trải qua nhiều biến động của quá trình đô thị hóa, nơi đây vẫn bảo tồn hệ thống đình, đền, chùa, miếu, văn chỉ cùng hơn 100 ngôi nhà cổ có tuổi đời trên một thế kỷ, trở thành điểm đến mang đậm dấu ấn văn hóa và lịch sử của vùng đất Thăng Long.
Dù theo đơn vị hành chính hiện nay không còn được gọi là "làng", Đông Ngạc vẫn được nhiều người nhắc đến như một vùng đất khoa bảng nổi tiếng bậc nhất kinh kỳ xưa. Vào năm 2019, cây bút Ronan O'Connell của CNN (Mỹ) từng giới thiệu về ngôi làng này: "Nằm ở ngoại ô Hà Nội, thường không có tên trong danh sách các điểm đến của khách du lịch, ngôi làng khoa bảng với tuổi đời hàng nghìn năm hầu như không thay đổi qua nhiều thế kỷ".
Nhận xét ấy phần nào phản ánh sức sống bền bỉ của một không gian văn hóa cổ giữa lòng đô thị hiện đại.

Làng Đông Ngạc có tên Nôm là Kẻ Vẽ. Từ xa xưa, vùng đất này đã nổi danh trong câu ca của người Kinh kỳ: "Đất Kẻ Giàn, quan Kẻ Vẽ", nhắc đến truyền thống hiếu học và khoa bảng hiếm có. Từ thời Trần đến thời Nguyễn, làng đã có 22 vị đỗ tiến sĩ, bảng nhãn, phó bảng cùng hơn 400 cử nhân, tú tài. Theo quy định của triều đình phong kiến, một địa phương có từ 10 tiến sĩ trở lên được xếp vào hàng "làng khoa bảng" và Đông Ngạc từng đứng thứ ba cả nước về số lượng tiến sĩ.
Chính truyền thống hiếu học ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm trong kiến trúc của ngôi làng. Khi bước qua cổng làng, du khách dễ dàng bắt gặp những cổng ngõ, cổng nhà được xây theo hình tháp bút, nghiên mực - biểu tượng của việc học hành và thi cử. Trên mỗi cổng đều khắc chữ Hán - Nôm, còn bên trong các ngôi nhà thường treo hoành phi, câu đối thể hiện nền nếp gia phong và truyền thống trọng chữ nghĩa của các dòng họ.

Toàn bộ khu vực làng rộng khoảng 120ha, gồm 5 xóm với mật độ di tích dày đặc. Hiện Đông Ngạc còn lưu giữ hơn 100 ngôi nhà cổ có tuổi đời trên 100 năm. Nhiều ngôi nhà gỗ vẫn được bảo tồn gần như nguyên trạng với hệ thống cột, kèo, cửa bức bàn được chạm khắc tinh xảo. Phần lớn các ngôi nhà được xây theo kiến trúc truyền thống Bắc Bộ gồm ba đến năm gian, mái ngói rủ, nền thấp, cột làm từ các loại gỗ quý, gian chính trang trí hoành phi, câu đối.
Đặc biệt, nhiều ngôi nhà đại khoa vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Theo các triều đại phong kiến, khi một người đỗ tiến sĩ trở về quê sẽ được dựng một ngôi nhà gỗ bề thế, gọi là nhà đại khoa. Chính vì có nhiều người đỗ đạt và làm quan lớn, Đông Ngạc sở hữu số lượng nhà cổ, cổng cổ nhiều bậc nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong đó, có những ngôi nhà đã trải qua hơn 5 thế hệ sinh sống, vẫn được con cháu gìn giữ cẩn thận.
Theo lời các bậc cao niên trong làng, hầu như mỗi ngõ đều có hai cổng, gồm cổng Cái ở phía trước và cổng Đồng ở phía sau. Dù nhiều gia đình đã xây dựng nhà mới khang trang, họ vẫn giữ lại những chiếc cổng cổ bằng gạch thất, vôi vữa truyền thống như một cách lưu giữ ký ức của cha ông.

Không chỉ nổi tiếng bởi nhà cổ, Đông Ngạc còn là một trong số ít những ngôi làng vẫn bảo tồn được hệ thống công trình văn hóa cộng đồng phong phú gồm đình, đền, chùa, miếu và văn chỉ.
Trong đó, đình Đông Ngạc là công trình tiêu biểu nhất. Tiền thân của đình là một ngôi miếu cổ được dựng từ thời nhà Đường đô hộ nước ta và đã trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1635, 1653, 1718, 1836, 1941... Đình tọa lạc trên khu đất cao ở phía Bắc làng, phía trước là hồ sen rộng, tạo nên khung cảnh thanh bình.
Đình thờ ba vị thần tượng trưng cho "thiên - địa - nhân", đồng thời thờ Tiến sĩ Phạm Quang Dung, người có công đứng ra trùng tu đình năm 1718 và Phạm Thọ Lý, người hiến đất để dựng đình vào năm 1635. Gian chính của đình vẫn bảo lưu gần như nguyên vẹn bố cục kiến trúc, nhiều sắc phong, câu đối cùng các cổ vật quý. Năm 1993, đình Đông Ngạc được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia.

Hằng năm, vào ngày 10 tháng Hai Âm lịch, đình là trung tâm diễn ra lễ hội truyền thống của làng. Bên cạnh phần lễ với nghi thức tế thần và rước kiệu trang nghiêm là phần hội sôi động với nhiều trò chơi dân gian như cờ người, múa sênh tiền, cờ bỏi, hát hình thơ..., góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa lâu đời của vùng đất khoa bảng.
Đông Ngạc cũng là địa danh gắn với nhiều dấu mốc quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam. Trong giai đoạn 1939-1945, ngôi nhà của gia đình cụ Phạm Thị Thiền từng là nơi cất giấu tài liệu, tổ chức nhiều cuộc họp bí mật của các cán bộ cách mạng như Hoàng Văn Thụ, Lê Quang Đạo, Xuân Thủy phục vụ hoạt động của Xứ ủy Bắc Kỳ.
Ngoài những công trình tín ngưỡng, làng còn sở hữu nhiều kiến trúc có giá trị. Nổi bật là Trường Khiêm Bị, được người Pháp xây dựng năm 1921. Sau nhiều lần tu sửa, công trình hiện là Trường Tiểu học Đông Ngạc B (cơ sở 2), vẫn giữ nguyên những khung cửa vòm cùng lớp sơn vàng đặc trưng của kiến trúc Pháp đầu thế kỷ XX.

Không chỉ hấp dẫn bởi kiến trúc và lịch sử, Đông Ngạc còn níu chân du khách bằng những món ăn truyền thống. Người Hà Nội xưa từng truyền nhau câu nói: "Giò Chèm, nem Vẽ" để nhắc đến hai đặc sản nổi tiếng vùng ven kinh thành. Nem Vẽ không phải là nem chua như ở Thanh Hóa mà là loại nem chạo làm từ bì lợn, mỡ gáy trộn với thính và lá chanh, thường ăn kèm lá sung, tạo nên hương vị rất riêng.
Một đặc sản khác của Kẻ Vẽ là bánh sấy hay còn gọi là thịt sấy. Món ăn có quy trình chế biến cầu kỳ, đòi hỏi nhiều công đoạn tỉ mỉ nên vẫn được xem là món quà truyền thống gắn với đời sống người dân địa phương.
Giữa nhịp phát triển nhanh của Thủ đô, làng cổ Đông Ngạc vẫn giữ được dáng vẻ trầm mặc với những cổng làng, nhà cổ, đình chùa và không gian văn hóa hàng trăm năm tuổi. Không chỉ là một "bảo tàng sống" về kiến trúc và lịch sử, nơi đây còn là minh chứng cho truyền thống hiếu học, tinh thần trọng tri thức của vùng đất từng được mệnh danh là một trong những làng khoa bảng tiêu biểu của Việt Nam.