Quy hoạch sông Hồng, Hà Nội chuẩn bị 265ha đất tái định cư: Chuyên gia chỉ ra thứ người dân cần nhất khi di dời
Hà Nội chuẩn bị 265ha đất tái định cư phục vụ dự án quy hoạch sông Hồng, nhưng chuyên gia cho rằng bài toán di dời còn phải giữ sinh kế cho người dân.

265ha đất tái định cư cho không gian sông Hồng
Trong điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở và Phương án hướng tuyến Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, tỷ lệ 1/500, Hà Nội đặt ra nguyên tắc đa dạng hóa địa điểm, loại hình nhà, đất tái định cư.
Theo định hướng này, việc tái định cư cần ưu tiên tối đa duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và sự gắn kết cộng đồng. Các khu tái định cư phải bảo đảm điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Đây cũng là ý kiến được các chuyên gia nhấn mạnh tại tọa đàm “Sông Hồng - Biểu tượng phát triển mới của Thủ đô” diễn ra mới đây do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức.
TS Nguyễn Viết Chức - Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội đánh giá cao định hướng ưu tiên tối đa tái định cư tại chỗ của Hà Nội.
Theo ông, con người chính là chủ thể tạo nên cuộc sống và văn hóa của một vùng đất. Vì vậy, khi người dân phải di dời để dành không gian cho sự phát triển chung, vấn đề cần quan tâm không chỉ là nơi ở mới mà còn là những giá trị tinh thần và các mối quan hệ đã gắn bó qua nhiều thế hệ.
“Người phải di dời cần được chia sẻ, không chỉ về vật chất. Sự hy sinh của họ hôm nay là để tạo dựng cảnh quan sông Hồng trong tương lai. Đây không chỉ là một dự án đô thị mà còn mang ý nghĩa đối với dòng sông mẹ, với lịch sử phát triển của dân tộc. Sự đóng góp đó rất đáng được ghi nhận”, TS Nguyễn Viết Chức nhấn mạnh.
Từ góc nhìn quy hoạch, KTS Trần Huy Ánh - Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội đánh giá cao việc Hà Nội chuẩn bị quỹ đất khoảng 265ha để xây dựng các khu tái định cư, khu đô thị đa chức năng. Theo ông, việc chuẩn bị quỹ đất lớn cho thấy yêu cầu về chỗ ở và cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng bởi dự án đã được đặt ra ngay trong quá trình chuẩn bị quy hoạch, thay vì chỉ xử lý sau khi triển khai.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để tái định cư thực sự đáp ứng yêu cầu đặt ra, việc tạo lập nơi ở mới cần đi xa hơn câu chuyện bố trí một căn nhà.
Người dân ven sông không chỉ có nhà và đất
GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, hoan nghênh việc thành phố tiến hành những nghiên cứu căn cơ, bài bản về làng xã và cộng đồng cư dân ven sông Hồng.
Theo ông, khi người dân hiểu rõ ý nghĩa của một công trình lớn, hướng tới tạo dựng một biểu tượng phát triển mới của Thủ đô, họ có thể chia sẻ với yêu cầu di dời vì lợi ích chung. Điều quan trọng là thành phố phải tạo điều kiện để người dân có nơi ở mới với điều kiện sống tốt hơn nơi ở hiện tại.
Dù vậy, với những cộng đồng đã sinh sống lâu đời ven sông, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc lưu ý nơi ở không đơn thuần là một căn nhà. Đằng sau đó còn là sự gắn bó với quê hương, sinh kế, văn hóa, tín ngưỡng và các quan hệ cộng đồng.

Bởi vậy, việc tái định cư cần ưu tiên tối đa tại chỗ, tạo điều kiện để người dân tiếp tục khai thác những lợi thế về sinh kế, duy trì các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và tham gia vào quá trình phát triển kinh tế ngay trên vùng đất mà họ đã gắn bó.
Ở góc nhìn kiến trúc và xã hội, KTS Phạm Thanh Tùng - Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng cần nhìn vấn đề tái định cư rộng hơn câu chuyện bồi thường nhà và đất.
“Người dân ở các làng ven sông đang sở hữu 5 thứ: Nhà ở, đất, sinh kế, quan hệ cộng đồng và ký ức nơi chốn. Nếu chỉ bồi thường tiền sử dụng đất hay nhà ở thì mới giải quyết được một phần”, ông phân tích.
Theo KTS Phạm Thanh Tùng, một hộ làm nghề truyền thống ở Bát Tràng không chỉ có căn nhà để ở mà còn có xưởng sản xuất, cửa hàng, nơi trưng bày sản phẩm, khách hàng quen, nguồn nguyên liệu, quan hệ láng giềng và mạng lưới giao lưu, trao đổi nghề nghiệp.
Các hộ làm nghề truyền thống khác cũng có những mối liên kết tương tự. Vì thế, nếu chỉ giải quyết bài toán về chỗ ở, “hệ sinh thái” của nghề truyền thống và cộng đồng có thể chưa chắc được tái tạo.
KTS Phạm Thanh Tùng cho rằng thành phố đã xác định nguyên tắc ưu tiên duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và gắn kết cộng đồng; trường hợp không đủ quỹ đất thì bố trí tại khu vực lân cận với khoảng cách hợp lý. Tuy nhiên, khi triển khai, những nguyên tắc này cần tiếp tục được cụ thể hóa và kiểm chứng trong quy hoạch chi tiết để bảo đảm có thể thực hiện trong thực tế.
TS Nguyễn Viết Chức cũng cho rằng sự chia sẻ với người dân trong diện di dời có thể được thể hiện bằng nhiều cách, từ tổ chức công viên, trường học, thiết chế văn hóa đến tạo điều kiện để con em các gia đình tiếp tục tham gia vào đời sống cộng đồng tại địa bàn quen thuộc.
Đại lộ cảnh quan cần giữ không gian cho dòng sông và làng nghề
Bài toán tái định cư và đời sống người dân cũng gắn với cách Hà Nội tổ chức lại không gian hai bờ sông Hồng. Theo KTS Phạm Thanh Tùng, trong nhiều thập kỷ, Hà Nội chủ yếu phát triển về phía nam và phía tây, trong khi chưa khai thác, kết nối hiệu quả với không gian sông Hồng.
Vì vậy, quy hoạch phân khu sông Hồng được Hà Nội phê duyệt là cơ sở quan trọng để định hướng phát triển khu vực này. Khi Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng được triển khai, việc điều chỉnh quy hoạch phân khu cần bảo đảm dự án phù hợp với định hướng cốt lõi của quy hoạch phân khu sông Hồng.
KTS Phạm Thanh Tùng cho rằng giao thông quan trọng nhưng không thể đặt cao hơn không gian bãi sông, khu vực làng nghề, bãi giữa. Đây là những khu vực để dòng sông “thở”, thấm nước và giữ nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
“Dự án này cực kỳ quan trọng. Đường giao thông quan trọng nhưng chưa bằng bãi sông, khu vực làng nghề, bãi giữa. Đây là nơi để dòng sông thở, nơi thấm nước và giữ nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Vì vậy, việc phát triển không gian ven sông cần theo hướng thuận thiên, thích nghi với cảnh quan, thay vì tập trung quá nhiều công trình đô thị”, ông Tùng nói.

Theo ông, không gian sông Hồng cần được tổ chức theo các lớp, trong đó lớp ngoài là bãi giữa, bãi sông, ven sông; phía trong mới là khu vực đô thị tái thiết. Đô thị nên có cao độ giảm dần từ phía trong ra phía ngoài, phù hợp với đặc điểm không gian ven sông.
Cùng với không gian tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa cũng là yếu tố được các chuyên gia lưu ý trong quá trình phát triển.
Theo KTS Phạm Thanh Tùng, quy hoạch phân khu sông Hồng đã đề cập đến 12 làng nghề, cùng các cụm di tích, di sản. Việc phát triển không gian mới cần tránh làm đứt gãy lịch sử, văn hóa; đồng thời tiếp tục nghiên cứu với sự tham gia của các nhà sử học, nhà nghiên cứu và chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan.
TS Nguyễn Viết Chức cho rằng mọi tác động vào sông Hồng cần giữ được sự hiền hòa và bảo đảm tính văn hóa. Những can thiệp thô bạo có thể gây tác động ngược đối với dòng sông. Tuy nhiên, bảo tồn không đồng nghĩa với việc giữ nguyên mọi thứ và từ chối phát triển.
“Bảo tồn và phát triển văn hóa đòi hỏi chúng ta phải biết trân trọng, bảo tồn, nhưng đồng thời cũng phải biết phát huy giá trị trong những điều kiện mới”, ông Chức nêu quan điểm.
Theo ông, bản sắc văn hóa không chỉ là yếu tố cần bảo vệ mà còn phải trở thành nguồn lực cho không gian đô thị mới. Những giá trị lịch sử, văn hóa gắn với sông Hồng cần được nhận diện, phát huy và đưa vào đời sống hiện tại, thay vì chỉ tồn tại như dấu tích của quá khứ.
Với quy hoạch sông Hồng, các chuyên gia cho rằng yêu cầu đặt ra không chỉ là tạo dựng một diện mạo đô thị mới, mà còn phải bảo đảm sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa phát triển hiện đại với các giá trị truyền thống và giữa không gian mới với cấu trúc của một đô thị nghìn năm đã hình thành bên sông Hồng.
Trong đó, chất lượng cuộc sống của người dân được xem là một thước đo quan trọng. TS Nguyễn Viết Chức cho rằng mục tiêu cao nhất của phát triển văn hóa và quy hoạch dòng sông phải là phục vụ nhân dân. “Kỳ tích sông Hồng” chỉ được xác lập khi mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và giúp cư dân hai bên bờ trực tiếp thụ hưởng những giá trị do quá trình phát triển tạo ra.
Từ những góc nhìn này, tinh thần được các chuyên gia nhấn mạnh là “thuận thiên, thuận lòng dân”. Phát triển không gian sông Hồng cần tôn trọng quy luật tự nhiên của dòng sông, đồng thời đặt quyền lợi, sinh kế, văn hóa, ký ức nơi chốn và tiếng nói của cộng đồng trong quá trình hoạch định và triển khai.