Thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt hình thành cách đây gần 900 năm, sầm uất suốt 7 thế kỷ, được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt
Nơi đây lưu giữ những dấu tích của thương cảng sầm uất bậc nhất Đại Việt, nay vươn lên khẳng định vị thế chiến lược, trở thành động lực phát triển của địa phương và cả nước.
Từ thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt
Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, thương cảng Vân Đồn được hình thành vào năm 1149 dưới thời vua Lý Anh Tông, được xem là thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt. Thương cảng gồm nhiều bến thuyền nằm trên các đảo thuộc Vịnh Bái Tử Long, trải rộng trên phạm vi khoảng 200km². Trong đó có các bến Cống Đông, Cống Tây, Cái Làng, Cống Cái, Cái Cổng, Con Quy, Cống Yên, Cống Hẹp, thuộc Đặc khu Vân Đồn ngày nay.
Trong gần 7 thế kỷ kể từ khi hình thành, Vân Đồn từng là nơi tập trung đông đúc các đoàn tàu buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Philippines và châu Âu. Các thương thuyền nước ngoài mang đến Đại Việt nhiều loại hàng hóa, trong đó có gấm vóc; trong khi hàng hóa được đưa từ Đại Việt ra bên ngoài chủ yếu gồm trầm hương, ngọc trai, ngà voi, vỏ quế, sừng tê giác, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu và hải sản.
Sự phát triển của thương cảng Vân Đồn được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Nhiều đoàn thương thuyền trước đây vào các cửa biển Tha, Viên ở châu Diễn, nay phần nhiều tụ tập ở Vân Đồn”. Không chỉ mở rộng về địa giới hành chính, Vân Đồn còn được nâng từ trang lên thành một trấn vào thời Trần Dụ Tông năm 1345, thuộc lộ Hải Đông, sau đổi thành lộ An Bang.

Hoạt động tại Vân Đồn không chỉ giới hạn ở giao thương. Dưới thời các vua Trần, nhiều chùa, tháp quy mô lớn được xây dựng như chùa Lấm, chùa Trong, chùa Cát, chùa Vụng Cây Quéo, chùa Vụng Chuồng Bò và Bảo Tháp tại khu vực Cống Đông. Những công trình này đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân trong nước và các thương nhân quốc tế, với mong muốn “thuận buồm mát mái, buôn bán hanh thông”.
Lịch sử thương cảng Vân Đồn cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm. Trong cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nguyên Mông vào thế kỷ XIII, các vua Trần ban hành những chính sách hạn chế ngoại thương, tác động đến hoạt động buôn bán tại đây. Sang thời Lê, sau khi giành được độc lập, triều đình thực hiện nhiều chính sách khắt khe đối với ngoại thương, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động buôn bán. Vì vậy, thương mại tại Vân Đồn không còn phát triển như thời Lý, Trần nhưng nơi đây vẫn giữ vị trí quan trọng trong hoạt động giao thương của Việt Nam.
Từ cuối thời Trần đến đầu thời Lê, vai trò của Vân Đồn và vùng cảng biển Đông Bắc trong mạng lưới hải thương khu vực, quốc tế được thể hiện rõ qua hoạt động trung chuyển và xuất khẩu gốm sứ. Bên cạnh việc trung chuyển gốm sứ Trung Quốc tới các thị trường trong khu vực, Vân Đồn còn là cửa ngõ đưa gốm sứ Đại Việt, trong đó có gốm men nâu thời Trần và men lam thời Lê sơ, ra thị trường quốc tế.

Từ cuối thế kỷ XV sang thế kỷ XVI, chính sử không ghi chép nhiều về hoạt động thương mại cũng như chính sách ngoại thương tại Vân Đồn. Tuy nhiên, kết quả khảo sát điền dã, khai quật khảo cổ học và nghiên cứu đồ gốm cho thấy thương cảng Vân Đồn cùng vùng duyên hải Đông Bắc vẫn nằm trong mạng lưới hải thương khu vực. Đây cũng là thời kỳ gốm sứ thương mại Việt Nam được xuất khẩu mạnh ra thị trường thế giới.
Dù triều đình phong kiến không có chính sách thúc đẩy ngoại thương, các hoạt động thương mại tại khu vực biển đảo Vân Đồn vẫn được duy trì. Từ năm 1460, chính sách biên mậu bị thu hẹp dưới triều Lê sơ đã hạn chế sự phát triển của thương cảng Vân Đồn và toàn khu vực hải cảng Đông Bắc. Tuy vậy, thương nhân Đại Việt và thương nhân nước ngoài vẫn tiếp tục trao đổi, buôn bán tại đây theo hình thức tiểu ngạch.
Bước sang thế kỷ XVI, thủ công nghiệp và kinh tế hàng hóa phát triển, thương nghiệp trong nước có những bước khởi sắc. Tuy nhiên, hoạt động giao thương tại khu vực duyên hải Nam Trung Quốc và Đông Bắc Việt Nam chịu nhiều tác động. Sự xuất hiện của những tuyến hải thương mới cũng làm thay đổi vị trí của các cảng biển ven bờ nước ta.
Đặc biệt, sự hình thành hàng loạt thương cảng ở Đàng Ngoài trong các thế kỷ XVI-XVII đã tác động đến Vân Đồn. Sau khi nhà Mạc lên ngôi, Dương Kinh được hình thành với vai trò kinh đô thứ hai, đồng thời là cửa ngõ giao thương với bên ngoài, qua đó ảnh hưởng đến hoạt động thương mại của Vân Đồn và khu vực biển Đông Bắc.
Dù cửa ngõ giao thương từng bước chuyển xuống phía Nam trong giai đoạn thế kỷ XVI-XVIII, thương cảng Vân Đồn không hoàn toàn biến mất. Nằm tiếp giáp khu vực thương mại sôi động ở Đông Nam Trung Quốc, Vân Đồn và vùng duyên hải Đông Bắc dù không còn giữ vai trò cửa ngõ thương mại chính của Đại Việt như thời Lý, Trần vẫn duy trì vị trí đáng kể trong hoạt động thương mại.
Đến đầu thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, thương cảng Vân Đồn không còn hoạt động. Cư dân tại một số bến cổ di chuyển đến nơi khác, kho tàng, bến bãi dần xuống cấp. Những bến thuyền từng phục vụ hoạt động thương mại chuyển sang phục vụ nhu cầu đánh bắt, trao đổi lâm sản, hải sản của người dân địa phương với các khu vực khác trong nước.
Qua thời gian và sự bồi lắng của biển, diện mạo sầm uất của thương cảng Vân Đồn xưa không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, trong lòng đất tại các bến thuyền cổ vẫn còn lưu giữ hàng triệu mảnh sành sứ, có cả những hiện vật còn nguyên vẹn, cùng dấu tích nền nhà, nền đình, nền chùa và tiền đồng.
Di tích lịch sử Quần thể Thương cảng Vân Đồn thuộc Đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1225/QĐ-TTg ngày 24/10/2023.
Trở thành mũi đột phá chiến lược của tỉnh Quảng Ninh
Từ một thương cảng từng giữ vị thế đặc biệt trong dòng chảy giao thương của Đại Việt đến những năm tháng dần lùi vào miền ký ức, Vân Đồn vẫn bền bỉ lưu giữ những dấu tích của một thời vàng son trong từng dãy núi đá, vùng biển xanh và những lớp trầm tích hun đúc qua thời gian.
Hôm nay, trên nền di sản giàu giá trị ấy, Vân Đồn tiếp tục khẳng định vị thế chiến lược, trở thành một điểm hội tụ quan trọng trong hành trình phát triển của Quảng Ninh nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.

Trong bức tranh phát triển của Quảng Ninh, đặc khu Vân Đồn được xác định là một trong những mũi đột phá chiến lược. Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh định hướng xây dựng Vân Đồn trở thành đặc khu kinh tế thế hệ mới, một trung tâm động lực hội tụ đổi mới sáng tạo và phát triển đột phá trên nền tảng thể chế, hạ tầng, nhân lực cùng bản sắc riêng.
Trong số 13 đặc khu của cả nước, Vân Đồn có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, nằm trong khu vực hợp tác kinh tế Việt - Trung, đồng thời là cầu nối ASEAN - Trung Quốc. Đặc khu cũng sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông đa dạng và đồng bộ.
Về hàng không, Sân bay quốc tế Vân Đồn không chỉ đáp ứng nhu cầu du lịch mà còn tạo khả năng kết nối trực tiếp với các thị trường quốc tế. Về đường biển, Cảng Ao Tiên có lợi thế về vận tải hàng hóa khối lượng lớn và kết nối với các tuyến vận tải biển quốc tế, tạo điều kiện cho phát triển logistics và hoạt động xuất nhập khẩu. Trong khi đó, tuyến cao tốc Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái hình thành trục xuyên tâm kết nối trực tiếp với Hà Nội, Hải Phòng và thị trường Trung Quốc, góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển và giảm chi phí logistics.

Cùng với vị trí chiến lược, Vân Đồn có hệ sinh thái biển đảo đa dạng, cảnh quan đặc sắc và kho tàng văn hóa bản địa giàu bản sắc. Đây là những lợi thế phục vụ định hướng phát triển du lịch và thu hút đầu tư. Những năm qua, với nguồn lực đầu tư được tỉnh ưu tiên, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội của Vân Đồn có bước phát triển mạnh. Nhiều tuyến đường huyết mạch, khu đô thị mới và công trình dịch vụ chất lượng cao được đầu tư, từng bước tạo nền tảng cho sự phát triển của khu vực.
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Vân Đồn thu hút hơn 60 dự án đầu tư ngoài ngân sách với tổng vốn đăng ký hơn 63.000 tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực du lịch - dịch vụ, đô thị thông minh, công nghiệp giải trí và văn hóa.
Năm 2025, tỉnh Quảng Ninh trao quyết định đầu tư cho 2 dự án phát triển dịch vụ, du lịch đẳng cấp quốc tế tại Vân Đồn với tổng vốn hơn 76.600 tỷ đồng. Các dự án này mở đầu cho quá trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Vân Đồn trở thành đặc khu kinh tế thế hệ mới, tạo động lực cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Với định hướng chiến lược, hệ thống hạ tầng hiện đại, cơ chế chính sách cởi mở cùng sự đồng thuận của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, Vân Đồn đang được đặt trong định hướng phát triển thành một đặc khu kinh tế thế hệ mới, gắn với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Quảng Ninh và đất nước.