Chủ tịch VCCI: Cùng một sản phẩm nhưng nơi tính thuế 5%, nơi 8%, nơi 10%

Khúc Văn • 05/10/2026 - 09:56

Chủ tịch VCCI Hồ Sỹ Hùng cho rằng cùng một sản phẩm nhưng cách áp dụng chính sách khác nhau giữa các địa phương đang tạo thêm chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Ông dẫn ví dụ cùng một sản phẩm nhưng nơi tính thuế 5%, nơi 8%, thậm chí 10%.

Việt Nam đã tạo ra những đột phá chưa từng có về thể chế

Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mới lần thứ 4 năm 2026 chiều 3/10, PGS.TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng những đột phá về thể chế đang mở ra dư địa lớn cho doanh nghiệp, nhưng khả năng biến cơ hội chính sách thành tăng trưởng thực chất sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lực thực thi của từng địa phương.

PGS. TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI.
PGS. TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI.

Theo ông Hùng, hai năm qua Việt Nam đã tạo ra những đột phá chưa từng có về thể chế. Bộ Chính trị ban hành các nghị quyết trụ cột, Quốc hội và Chính phủ khẩn trương thể chế hóa, đồng thời có những phương thức đặc biệt để kịp thời tháo gỡ nhiều điểm nghẽn trong thực tế.

Việc sắp xếp lại bộ máy với 34 tỉnh, thành phố và mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng tạo ra những thay đổi đáng kể. Từ góc nhìn cộng đồng doanh nghiệp, thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh được đơn giản hóa, thời gian thực hiện thủ tục nhanh hơn, trong khi doanh nghiệp cũng dễ hiểu và tuân thủ quy định hơn.

Ông Hùng dẫn chứng, những cải cách trong lĩnh vực đầu tư như trao thêm thẩm quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh và mở rộng cơ chế “luồng xanh”, chuyển từ tiền kiểm sang cam kết của nhà đầu tư và hậu kiểm của Nhà nước, đã rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án.

Tại Phú Thọ, tính đến hết tháng 9/2026, địa phương thu hút 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt 151,3% kế hoạch năm và gấp 2,1 lần cùng kỳ.

Tại Tây Ninh, trong 8 tháng đầu năm, có 93 dự án được phê duyệt với tổng vốn khoảng 900.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 33 tỷ USD; trong đó các công trình khởi công tại thời điểm đó có tổng giá trị khoảng 116.000 tỷ đồng.

Một ví dụ khác được Chủ tịch VCCI nhắc tới là Lạng Sơn. Việc triển khai cửa khẩu thông minh và cải cách thủ tục hải quan đã giúp lưu lượng xe qua cửa khẩu tăng từ khoảng 650-750 xe/ngày vào tháng 5/2024 lên hơn 1.000 xe/ngày hiện nay mà không xảy ra ùn tắc.

Thời gian thông quan được rút xuống dưới 24 giờ, so với 4-5 ngày trước đây, trong khi chi phí vận hành của doanh nghiệp giảm khoảng 30-40%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2026 của Lạng Sơn đạt hơn 91 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2025.

“Với nông sản tươi, mỗi giờ chờ cửa khẩu sẽ thêm chi phí và rủi ro chất lượng. Việc rút ngắn thời gian chính là tăng sức cạnh tranh trực tiếp cho doanh nghiệp”, ông Hùng nói.

Bốn khoảng cách trong thực thi

Theo Chủ tịch VCCI, những kết quả trên cho thấy chính sách đang thay đổi theo hướng thuận lợi, tạo dư địa và sức bật lớn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, dư địa phát triển vẫn còn rất lớn.

Đầu tư FDI đăng ký trong 9 tháng đầu năm đạt 53,5 tỷ USD, tăng 76,4%. Trong khi đó, đầu tư của khu vực tư nhân Việt Nam mới đạt khoảng 1,65 triệu tỷ đồng, thấp hơn kỳ vọng của Chính phủ.

Ông Hùng cho rằng một trong những nguyên nhân nằm ở sự khác biệt về hiệu quả thực thi giữa các địa phương. “Sự khác biệt này nằm ở quyết tâm và cách thức tổ chức thực thi”, ông nói.

Theo ông, trong giai đoạn tới, kết quả sẽ không còn được quyết định chủ yếu ở nơi ban hành chính sách mà ở nơi chính sách được thực thi như thế nào.

Qua theo dõi thực tiễn và khảo sát năm 2026, VCCI nhận diện bốn khoảng cách trong thực thi.

Thứ nhất là khoảng cách giữa quyền được trao trên văn bản và hành vi trên thực tế.

Ông Hùng lấy ví dụ với thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Doanh nghiệp thuê tổ chức chứng nhận hợp quy có thể mất khoảng 5 triệu đồng/lô, trong khi tự đánh giá sự phù hợp chỉ khoảng 700.000 đồng. Pháp luật cho phép cả hai phương thức nhưng doanh nghiệp vẫn lựa chọn cách tốn kém hơn.

Theo ông, khi quy định chưa rõ, cơ quan thực thi thường có xu hướng chọn phương án an toàn nhất cho mình, khiến rủi ro dồn về phía doanh nghiệp.

Thứ hai là khoảng cách giữa chính sách Trung ương và cách diễn giải tại từng địa phương.

Ngành thủy sản là một ví dụ. Cùng một sản phẩm như tôm, cá, mực, nghêu nhưng cơ quan thuế tại các địa phương có thể hướng dẫn khác nhau: có nơi xác định không chịu thuế, nơi áp thuế 5%, 8% hoặc 10%.

Có trường hợp bên bán đã kê khai, nộp thuế nhưng bên mua ở địa phương khác lại không được khấu trừ. Với thuế thu nhập doanh nghiệp, cùng một dây chuyền sản xuất nhưng cách xác định thế nào là chế biến thủy sản cũng khác nhau giữa các kỳ kiểm tra và các cơ quan.

“Doanh nghiệp có thể dự đoán chính sách của Trung ương nhưng rất khó dự đoán từng địa phương sẽ áp dụng chính sách đó ra sao”, ông Hùng nhận xét.

Thứ ba là khoảng cách giữa phân cấp và năng lực thực hiện.

Việc sắp xếp bộ máy và phân cấp là quyết sách đúng, nhưng trong ngắn hạn, một số nhiệm vụ đã được giao về cấp xã trong khi nhân lực chuyên môn chưa được bố trí kịp thời, thẩm quyền ở một số lĩnh vực chưa đồng bộ.

Có doanh nghiệp mất hơn 7 tháng vẫn chưa xác định được cơ quan cấp phép nhập khẩu chất chuẩn để kiểm nghiệm thuốc. Việc dữ liệu giữa các địa phương chưa được kết nối cũng khiến doanh nghiệp phải thực hiện những công việc lẽ ra các cơ quan Nhà nước có thể phối hợp và tra cứu với nhau.

Thứ tư là khoảng cách giữa giảm gánh nặng và kiến tạo phát triển.

Khảo sát hơn 1.000 hộ kinh doanh của VCCI năm 2026 cho thấy 73,3% đánh giá khó khăn pháp lý ở mức lớn hoặc nghiêm trọng. Chỉ 15,6% có ý định chuyển lên doanh nghiệp trong hai năm tới.

Theo ông Hùng, nếu muốn đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, cần giải quyết những rào cản này ngay từ cấp xã, phường, nơi doanh nghiệp và hộ kinh doanh trực tiếp làm thủ tục.

Đề xuất thay đổi cách thực thi

Từ những khoảng cách trên, Chủ tịch VCCI đề xuất bốn nhóm giải pháp.

Một là xác lập các quy tắc thực thi an toàn cho cả người tuân thủ và cán bộ thực thi. Khi quy định có nhiều cách hiểu, cần ưu tiên cách hiểu có lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp; không từ chối tiếp nhận hồ sơ chỉ vì thiếu văn bản hướng dẫn; người làm đúng hướng dẫn bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền được miễn trách nhiệm và không áp dụng hồi tố theo hướng bất lợi.

Hai là bảo đảm cách hiểu thống nhất trên toàn quốc. Các bộ, ngành cần ban hành hướng dẫn kèm phụ lục tra cứu theo nhóm sản phẩm, có ví dụ cụ thể. Ý kiến giải đáp cho một địa phương cũng cần được công khai để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự.

Ba là phân cấp phải đi cùng năng lực và liên thông dữ liệu. Mỗi thủ tục cần có một đầu mối rõ ràng; nhân lực cấp xã phải được bố trí theo khối lượng hồ sơ thực tế; cấp tỉnh cần hỗ trợ cấp xã trong giai đoạn đầu. Việc xác nhận giữa các tỉnh nên được thay bằng tra cứu dữ liệu, doanh nghiệp chỉ cần khai báo một lần với cơ quan đầu mối.

Bốn là đo lường thực thi bằng kết quả thực tế và nhân rộng các mô hình tốt. Theo ông Hùng, không nên chỉ dựa vào báo cáo tự đánh giá mà cần có bộ chỉ số độc lập về thời gian xử lý, chi phí thực tế, mức độ nhất quán trong áp dụng và tỷ lệ hồ sơ trễ hạn.

Ông cũng đề nghị sớm tổng kết, nhân rộng những mô hình như “luồng xanh” trong đầu tư hay cửa khẩu thông minh. Các địa phương nên cạnh tranh bằng chất lượng thực thi thay vì chủ yếu dựa vào ưu đãi.

“Ở từng tỉnh, từng xã, đột phá chính sách mở ra cơ hội; đột phá trong thực thi ở địa phương sẽ biến cơ hội đó thành tăng trưởng”, ông Hùng nhấn mạnh.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-05 08:42
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/chu-tich-vcci-cung-mot-san-pham-nhung-noi-tinh-thue-5-noi-8-noi-10-1469346.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Chủ tịch VCCI: Cùng một sản phẩm nhưng nơi tính thuế 5%, nơi 8%, nơi 10%
    POWERED BY ONECMS & INTECH