Vĩ mô

Đô thị loại I không nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương và phải có thu nhập bình quân cao hơn cả nước

Mai Anh 02/01/2026 16:51

Đối với đô thị loại I, ngưỡng quy mô dân số được nâng lên từ 2,5 triệu người, thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức bình quân cả nước và không nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương.

da-nang-nhanh-chong-lot-xac-nho-nhung-nha-dau-tu-chien-luoc.jpg
Đối với đô thị loại I, ngưỡng quy mô dân số được nâng lên từ 2,5 triệu người

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vừa ký ban hành các nghị quyết quan trọng liên quan đến hệ thống phân loại đô thị và tiêu chuẩn đơn vị hành chính, tạo dấu mốc mới trong quản lý, tổ chức và phát triển không gian đô thị của Việt Nam từ năm 2026.

Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị, có hiệu lực từ ngày 1/1, Hà Nội và TP HCM tiếp tục được xác định là đô thị loại đặc biệt.

Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ được giữ nguyên là đô thị loại I. Việc phân loại đô thị được xác định là căn cứ quan trọng để tổ chức, quản lý và phát triển hệ thống đô thị quốc gia, vùng và địa phương; quản lý đơn vị hành chính đô thị cũng như đánh giá việc thực hiện quy hoạch. Quá trình phân loại phải dựa trên quy hoạch đô thị, đồng thời bảo đảm các xu hướng phát triển xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững theo từng giai đoạn kinh tế – xã hội.

Nghị quyết xác định đô thị loại đặc biệt là trung tâm tổng hợp quốc gia và quốc tế, có vai trò và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đặc thù. Do tính chất riêng biệt, Hà Nội và TP HCM không áp dụng cơ chế đánh giá, phân loại lại theo các tiêu chí chung như những nhóm đô thị khác.

Đối với đô thị loại I, nghị quyết chuyển từ phương pháp chấm điểm sang cơ chế “đạt hoặc không đạt”, yêu cầu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bắt buộc. Ngưỡng quy mô dân số được nâng lên từ 2,5 triệu người, đồng thời yêu cầu thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức bình quân cả nước, tốc độ tăng trưởng GRDP không thấp hơn GDP, thuộc nhóm địa phương thu hút đầu tư hàng đầu và không nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương.

So với trước, các tiêu chuẩn phản ánh vai trò quốc gia và quốc tế được bổ sung mạnh mẽ, bao gồm yêu cầu có khu chức năng cấp quốc gia hoặc quốc tế, khả năng tổ chức sự kiện quốc tế cấp khu vực và sở hữu các đầu mối hạ tầng giao thông quan trọng kết nối vùng, liên vùng. Các tiêu chí về đô thị thông minh, khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng trở thành điều kiện bắt buộc.

Với đô thị loại II, nghị quyết tiếp tục áp dụng phương pháp chấm điểm, yêu cầu đạt tối thiểu 75/100 điểm và không thiếu hụt ở bất kỳ nhóm tiêu chí nào. Quy mô dân số tối thiểu từ 500.000 người, mật độ dân số từ 1.500 người/km², tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 95%, đồng thời phải đáp ứng các tiêu chí mới về xử lý nước thải, phân loại rác tại nguồn, ngầm hóa cáp kỹ thuật, sử dụng năng lượng tái tạo và cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình.

Đô thị loại III vẫn được đánh giá bằng điểm số nhưng điều kiện đạt chuẩn được siết chặt hơn, áp dụng cho cả phạm vi toàn đô thị và các đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, với các tiêu chí cụ thể về hạ tầng xã hội, môi trường đô thị, thoát nước chống ngập, quản lý trật tự và mức độ hài lòng của người dân.

Một điểm mới đáng chú ý là tiêu chí quản trị đô thị được tách thành nhóm đánh giá độc lập, trong đó mức độ hài lòng của người dân, chất lượng dịch vụ công, an toàn giao thông và phòng cháy chữa cháy trở thành căn cứ quan trọng trong phân loại. Theo quy định, đô thị chỉ được nâng loại khi các đô thị trực thuộc đạt chuẩn tương ứng, nhằm khắc phục tình trạng phát triển không đồng đều giữa đô thị trung tâm và các khu vực vệ tinh.

Từ ngày 1/1/2026, hệ thống phân loại đô thị của Việt Nam chính thức bước sang giai đoạn mới khi chỉ còn 4 loại đô thị, gồm đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III. Theo Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15, đô thị loại IV và V không còn được duy trì; các đô thị, thị xã, thị trấn trước đây thuộc hai nhóm này sẽ được xác định là đô thị loại III theo khung mới. Việc tinh gọn hệ thống không chỉ là rút gọn danh mục, mà gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và các quy định chuyển tiếp nhằm tránh xáo trộn trong quản lý.

Nghị quyết 111 cũng thay đổi cách tiếp cận trong đánh giá đô thị. Việc phân loại không chỉ dừng ở “đạt hay không đạt” mà được thực hiện thông qua chấm điểm theo thang tối đa 100 điểm. Đô thị loại II và III phải đạt tối thiểu 75 điểm trên toàn đô thị, đồng thời điểm trung bình đánh giá trình độ phát triển của các đơn vị hành chính cấp xã đạt tối thiểu 48 điểm và phải có ít nhất một xã, phường đạt từ 75 điểm. Cách tiếp cận này cho phép đánh giá chi tiết đến từng đơn vị hành chính cơ sở, làm căn cứ cho việc xác định mức độ phát triển và xây dựng các chương trình phát triển đô thị trong các giai đoạn tiếp theo.

Lần đầu tiên, các tiêu chí về đô thị xanh, thông minh và phát triển bền vững được đưa vào khung đánh giá chính thức. Những nội dung như giao thông công cộng, không gian xanh, công trình xanh, xử lý chất thải rắn, phân loại rác tại nguồn, ứng dụng công nghệ trong quản lý đô thị, giảm phát thải, sử dụng năng lượng tái tạo và thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành tiêu chí được tính điểm, gắn trực tiếp với chất lượng sống của người dân đô thị.

Theo Kiến thức Đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/do-thi-loai-i-khong-nhan-ho-tro-tu-ngan-sach-trung-uong-va-phai-co-thu-nhap-binh-quan-cao-hon-ca-nuoc-1421504.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Đô thị loại I không nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương và phải có thu nhập bình quân cao hơn cả nước
    POWERED BY ONECMS & INTECH