Một ngành có khoảng 7.000 doanh nghiệp nhưng gần 10 năm chưa có hồ sơ vay vốn Nhà nước, đó là ngành nào?
Được xem là ngành nền tảng, nhưng theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, gần 10 năm qua chưa có hồ sơ vay tín dụng đầu tư của Nhà nước.

Ngày 30/9, tại Phú Thọ, phát biểu kết luận Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết cả nước hiện có trên 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, khoảng 30% đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, chỉ khoảng 17% doanh nghiệp tiếp cận được hỗ trợ; đáng chú ý, tín dụng đầu tư của Nhà nước dành cho công nghiệp hỗ trợ gần mười năm qua chưa có một hồ sơ vay nào.
“Những con số ấy đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách làm, chứ không chỉ ban hành thêm chính sách”, Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc nói.
Khoảng 7.000 doanh nghiệp nhưng tín dụng Nhà nước chưa có hồ sơ vay
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp nền tảng, trực tiếp quyết định năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và mức độ tham gia của nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Công nghiệp hỗ trợ là tầng sản xuất trung gian gồm vật liệu, linh kiện, phụ tùng, công nghệ chế tạo, thiết kế, đo lường, thử nghiệm…, quyết định độ sâu và sức chống chịu của cả nền công nghiệp. Một quốc gia có thể lắp ráp những sản phẩm rất hiện đại nhưng vẫn chưa có nền tảng công nghiệp tự chủ nếu công nghiệp hỗ trợ còn yếu.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng được Phó Thủ tướng Thường trực xác định là vấn đề liên quan đến an ninh kinh tế và năng lực tự chủ của nền kinh tế, đồng thời là điều kiện để thực hiện mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Với tầm quan trọng ấy, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu nhìn thẳng vào thực tế công nghiệp hỗ trợ vẫn “rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh”.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu năm 2025 và 80,1% trong 8 tháng năm 2026, với tốc độ tăng 26,9%, trong khi xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 7,4%.
Đáng chú ý, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục đánh giá, làm rõ trong tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI, doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia và tạo ra bao nhiêu giá trị. Đây là cơ sở để đánh giá đúng thực chất năng lực công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới được Phó Thủ tướng Thường trực dẫn tại hội thảo, mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam mới khoảng 18% và chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp lớn.
Cung ứng trong nước cho công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt khoảng 5-10%. Nhiều lĩnh vực như đúc, rèn, xử lý nhiệt, xử lý bề mặt và vật liệu kỹ thuật còn những khoảng trống.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, những con số trên đòi hỏi phải nghiên cứu lại cách làm, chứ vấn đề không chỉ nằm ở việc tiếp tục thay đổi thể chế hay ban hành thêm chính sách.
Những hạn chế này bắt nguồn từ các điểm nghẽn mang tính hệ thống, gồm thiếu thị trường dẫn dắt và doanh nghiệp đầu chuỗi đặt hàng ổn định, ưu đãi chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạ tầng tiêu chuẩn, đo lường, thử nghiệm còn yếu, nhân lực “thừa thầy, thiếu thợ”, phối hợp chưa chặt và chưa đo được chính xác những thay đổi mà chính sách tạo ra.
Sâu xa hơn là tư duy thu hút đầu tư theo số lượng. Theo Phó Thủ tướng Thường trực, thu hút đầu tư cần chuyển mạnh sang chất lượng, công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, tạo việc làm và đóng góp vào năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Từ thực tế hoạt động của các tập đoàn lớn, Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý, muốn tham gia chuỗi cung ứng, bản thân doanh nghiệp Việt Nam phải đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu. Khi sản phẩm, mẫu mã liên tục thay đổi, doanh nghiệp trong nước phải có khả năng thích ứng tương ứng, đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi.
Trong khi đó, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng các dự án hạ tầng chiến lược như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi và các chương trình công nghệ chiến lược đang mở ra cơ hội lớn.
Đối với các dự án lớn, Phó Thủ tướng Thường trực đặc biệt lưu ý yêu cầu chuyển giao công nghệ, qua đó tạo điều kiện nâng cao năng lực công nghệ trong nước.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước “hai nhịp” phải thực hiện đồng thời. Một mặt là khắc phục những yếu kém, hoàn thành phần còn dở dang của quá trình công nghiệp hóa truyền thống. Mặt khác là không để các ngành mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot, pin, năng lượng mới, hàng không vũ trụ đi vào “vết xe cũ” - có sản phẩm cuối cùng nhưng nhập gần như toàn bộ linh kiện, vật liệu.

5 chuyển đổi để thay đổi cách phát triển công nghiệp hỗ trợ
Từ thực tế trên, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận phát triển công nghiệp hỗ trợ với 5 chuyển đổi căn bản.
Thứ nhất, chuyển từ “nội địa hóa theo tỷ lệ” sang “làm chủ năng lực”, phân định rõ năng lực nào cần tự chủ, năng lực nào phải bảo đảm khả năng thay thế, không đặt mục tiêu tự sản xuất bằng mọi giá đối với tất cả đầu vào.
Phó Thủ tướng Thường trực dẫn thực tế các tập đoàn toàn cầu cũng không tự sản xuất tất cả mà tổ chức mạng lưới cung ứng trên phạm vi rộng. Việt Nam cũng không nhất thiết tự nghiên cứu mọi công nghệ; có thể mua bản quyền, hợp tác, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ để rút ngắn thời gian, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, đồng thời tập trung nguồn lực vào những năng lực cốt lõi mà Việt Nam cần làm chủ.
Thứ hai, chuyển từ hỗ trợ dàn trải theo tên ngành sang tập trung theo chuỗi, theo công đoạn và theo những bài toán lớn của đất nước.
Thứ ba, chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả, có điều kiện, có thời hạn. Nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, chia sẻ rủi ro nhưng không để phát sinh cơ chế xin - cho.
Thứ tư, chuyển từ chú trọng “thu hút FDI” sang “sử dụng hiệu quả FDI”, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ năm, chuyển từ quản lý theo hoạt động sang quản lý theo kết quả. Mỗi đồng ngân sách phải tạo thêm nhà cung ứng đạt chuẩn và thêm giá trị gia tăng trong nước.
Xuyên suốt các chuyển đổi này là nguyên tắc doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, trong đó khu vực tư nhân cần được đặc biệt chú trọng trong phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nhà nước kiến tạo, tạo thị trường ban đầu. Thị trường trong nước là điểm tựa, xuất khẩu là thước đo cuối cùng của năng lực cạnh tranh.
Các dự án lớn sẽ trở thành “đơn đặt hàng đầu tiên”
Một nhiệm vụ trọng tâm được Phó Thủ tướng Thường trực đặt ra là nghiên cứu cơ chế để đầu tư công, dự án hạ tầng chiến lược, mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp trong nước.
Các dự án lớn phải có phương án sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước, đo bằng giá trị và hàm lượng công nghệ. Những khâu doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực cần được ưu tiên giao; nhập khẩu công nghệ cao phải gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng.
Các tập đoàn trong nước cần công bố tiêu chuẩn, đặt hàng từng phân hệ và đồng hành cùng nhà cung ứng Việt Nam. Thu hút FDI phải có chọn lọc, ưu tiên dự án có nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ.
Cùng với đào tạo nhân lực theo đơn đặt hàng, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu xây dựng hạ tầng thử nghiệm, chứng nhận và nghiên cứu ứng dụng dùng chung; phát triển cho vay dựa trên hợp đồng, đơn hàng; kết nối các quỹ hiện có, không lập quỹ mới trùng chức năng.
Về thể chế, Phó Thủ tướng yêu cầu thể chế hóa đầy đủ chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trong Luật Công nghiệp trọng điểm, chú trọng liên kết giữa doanh nghiệp đầu chuỗi với nhà cung ứng, ưu đãi gắn kết quả và hạ tầng dùng chung.
“Đối với kiến nghị về một đạo luật riêng, trước mắt cần đưa những nội dung cần thiết vào Luật Công nghiệp trọng điểm để sớm đi vào cuộc sống”, Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc nêu rõ.
Phó Thủ tướng Thường trực cho rằng cách tiếp cận mới phải được đo bằng những mục tiêu cụ thể.
Đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đặt mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%, trong đó điện tử 25-30%, cơ khí chế tạo 40%, ô tô 22-30%, dệt may 60%, da giày 60-65%, công nghiệp công nghệ cao 15%. Chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
Đến năm 2035, tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục được nâng lên, trong đó cơ khí chế tạo đạt 50%, dệt may 70%. Doanh nghiệp Việt Nam chủ động được các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo.
“Mục tiêu thì rõ ràng. Vấn đề là tổ chức thực hiện làm sao để đạt mục tiêu đó”, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh.
Theo đó, cần phấn đấu chặn đà suy giảm giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu, hình thành mạng lưới nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 là doanh nghiệp Việt Nam cho các tập đoàn, doanh nghiệp đầu chuỗi trong nước. Mỗi vùng công nghiệp trọng điểm cần có trung tâm thử nghiệm, chứng nhận dùng chung được quốc tế thừa nhận, đồng thời sớm xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê chính thức về công nghiệp hỗ trợ.
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc nêu rõ mục tiêu nội địa hóa đến năm 2035 với 8 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: hoàn thiện thể chế; kiến tạo thị trường từ đầu tư, mua sắm công; phát huy doanh nghiệp đầu chuỗi; phát triển hạ tầng, vật liệu, nhân lực và tổng công trình sư; đổi mới tài chính, tín dụng chuỗi cung ứng; tổ chức lại không gian theo cụm liên kết ngành; xây dựng Phú Thọ thành trung tâm công nghiệp hỗ trợ miền Bắc; hoàn thiện hệ thống đo lường, dữ liệu nhà cung ứng.
Để triển khai, Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương ban hành kế hoạch hành động giai đoạn 2026-2028 trước ngày 31/12/2026, xác định chuỗi ưu tiên, trách nhiệm và mốc kiểm tra sau 12 tháng, 24 tháng.
Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nghiên cứu lộ trình nội địa hóa và danh mục đặt hàng trong nước trước ngày 30/6/2027. Các hiệp hội, doanh nghiệp gửi kiến nghị trong 15 ngày, tập trung vào những công đoạn có thể thực hiện trong 36 tháng.
Tầm nhìn đến năm 2045 là công nghiệp hỗ trợ Việt Nam làm chủ công nghệ lõi của các ngành công nghiệp nền tảng, tham gia những khâu có giá trị cao của chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đủ sức duy trì năng lực sản xuất trong mọi tình huống.
Kết luận hội thảo, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh: “Không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng lắp ráp”.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, Chính phủ sẽ chỉ đạo quyết liệt theo tinh thần “việc đã nói thì phải làm, việc đã giao thì phải có địa chỉ, có thời hạn và có kết quả đo đếm được”, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ có bước phát triển mới, đóng góp vào năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.