Trung Quốc quyền lực hơn cả OPEC: Một quyết định từ Bắc Kinh đủ khiến giá dầu thế giới giảm 30 USD/thùng

Nhật Hạ 12/08/2026 - 08:58

Hãy quên OPEC đi. Trung Quốc mới là bên đang nắm quyền chi phối.

Cuộc chiến Iran đã gây ra cú sốc nguồn cung dầu mỏ lớn nhất trong lịch sử. Thế nhưng ngay cả lúc giao tranh diễn ra dữ dội nhất, giá dầu vẫn chưa bao giờ chạm mức 150 USD/thùng như nhiều nhà phân tích dự đoán khi xung đột mới bắt đầu.

Điều này phần nào nhờ vào phản ứng của một số quốc gia. Ngay sau khi vũ khí của Iran khiến eo biển Hormuz không thể lưu thông, làm mắc kẹt 14 triệu thùng dầu thô mỗi ngày trong vùng Vịnh, các quốc gia dầu mỏ tại Abu Dhabi và Riyadh đã chuyển thêm 5 triệu thùng/ngày qua các đường ống tránh eo biển này.

Đồng thời, Nhật Bản và Mỹ giải phóng lượng dầu dự trữ khẩn cấp ở mức kỷ lục 2 triệu thùng/ngày; trong khi việc phân phối nhiên liệu có kiểm soát của nhà nước tại các nước nghèo hơn cũng làm giảm một phần nhu cầu.

Tuy nhiên, thảm họa vẫn có thể xảy ra nếu không có những quyết định được âm thầm đưa ra tại một thủ đô khác: Bắc Kinh. Từ tháng 2 đến tháng 6, Trung Quốc đã cắt giảm một nửa lượng dầu thô nhập khẩu, tương đương khoảng 5,5 triệu thùng/ngày. Theo ước tính của các chuyên gia, điều này đủ để kéo giá dầu Brent – chuẩn giá dầu toàn cầu – giảm từ 30 USD trở lên trên mỗi thùng.

10 8 1
Trung Quốc mạnh tay cắt giảm nhập khẩu dầu: Lượng dầu nhập khẩu giảm sâu trong năm 2026, đặc biệt từ các nước vùng Vịnh, cho thấy Bắc Kinh có thể chủ động “tắt” nhu cầu mua dầu để giảm áp lực lên thị trường. (Nguồn: The Economist)

Mức giảm này tương đương hơn một nửa mức suy giảm nhu cầu dầu toàn cầu trong thời kỳ phong tỏa vì Covid-19, khi nhu cầu thế giới giảm khoảng 9 triệu thùng/ngày. Nhưng khác với đại dịch, thời điểm kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, GDP Trung Quốc lần này vẫn tiếp tục tăng trưởng khá ổn định. Nói cách khác, Trung Quốc không giảm mua dầu thô nước ngoài vì nền kinh tế của nước này gặp khó khăn.

Khả năng có thể bật hoặc tắt nhu cầu dầu gần như theo ý muốn, mà dường như chỉ phải trả một cái giá kinh tế tương đối thấp, đang cho phép quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới tác động đến giá dầu theo cách mà Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh từ lâu vẫn làm thông qua quyền kiểm soát khoảng một nửa sản lượng dầu toàn cầu.

Trong bối cảnh OPEC suy yếu sau khi Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất rời khỏi tổ chức và công suất sản xuất của các thành viên vùng Vịnh còn lại ngày càng căng thẳng, sức mạnh thị trường của Trung Quốc đang gia tăng. Như lời một lãnh đạo trong ngành giao dịch dầu đã nói, “Trung Quốc chính là OPEC mới”.

Trong bốn thập kỷ qua, OPEC đã cố gắng giữ giá dầu ở mức cao bằng cách áp dụng hạn ngạch sản xuất. Về lý thuyết, các quốc gia nhập khẩu không thể làm điều ngược lại – tức giữ giá thấp bằng cách hạn chế nhu cầu – bởi người mua phân tán hơn nhiều so với người bán, và nhu cầu năng lượng trong nước là kết quả của quyết định từ vô số doanh nghiệp và cá nhân.

Và khác với OPEC+, nơi mọi quyết định cần có sự đồng thuận giữa 21 quốc gia, các nhà hoạch định trung ương của Trung Quốc có thể hành động đơn phương chỉ theo mệnh lệnh của một người: Chủ tịch Tập Cận Bình.

Trung Quốc tác động tới thị trường dầu mỏ thông qua ba đòn bẩy chính.

Đòn bẩy thứ nhất: Dự trữ dầu quốc gia

Trong 12 tháng tính đến đầu năm 2026, khi nguy cơ về một đợt “siêu dư cung” khiến giá dầu giảm mạnh, Trung Quốc tranh thủ mua vào khoảng 200 triệu thùng dầu giá rẻ, bổ sung cho kho dự trữ vốn đã rất lớn với khoảng 1 tỷ thùng.

Các nhà giao dịch ước tính hoạt động mua vào của Trung Quốc có thể đã khiến giá dầu thế giới tăng thêm 10-20 USD mỗi thùng trước khi chiến tranh Iran nổ ra.

10 8 2
Dự trữ dầu trở thành tấm đệm của Trung Quốc: Sau khi tích lũy mạnh trong giai đoạn giá thấp, Trung Quốc bắt đầu rút dầu từ kho thương mại và các nhà máy lọc dầu, nhờ đó giảm nhu cầu nhập khẩu mà chưa phải sử dụng nhiều đến dự trữ chiến lược. (Nguồn: The Economist)

Trong tổng số 11,6 triệu thùng/ngày mà Trung Quốc nhập khẩu vào tháng 2, có tới 1 triệu thùng/ngày là lượng mua vượt nhu cầu tiêu dùng hiện tại nhằm tích trữ. Khi cần, Trung Quốc đơn giản có thể ngừng mua lượng dầu này.

Sau khi các chuyến dầu cuối cùng từ vùng Vịnh trước chiến tranh cập cảng vào cuối tháng 4, Trung Quốc bắt đầu sử dụng lượng dự trữ khổng lồ của mình.

Theo Vortexa, một công ty dữ liệu, đến tháng 7 lượng tồn kho dầu của Trung Quốc đã giảm khoảng 70 triệu thùng, chưa bao gồm dầu được lưu giữ trên các tàu chở dầu ngoài khơi và trong những kho ngầm bí mật.

Nếu tính cả những nguồn này, Trung Quốc đã sử dụng khoảng 150 triệu thùng dầu dự trữ trong ba tháng, tương đương khoảng 1,5 triệu thùng/ngày.

Phần lớn số dầu được rút ra là dự trữ thương mại do các bộ phận lưu trữ dầu của các tập đoàn dầu khí quản lý nhằm mục tiêu lợi nhuận, thay vì kho dự trữ chiến lược quốc gia.

Thông thường, các nhà máy lọc dầu phải bổ sung lượng dầu đã lấy khỏi kho trong vòng một tháng, theo Tom Reed của Argus Media, một tổ chức cung cấp dữ liệu giá dầu.

Nhưng bởi các công ty này đều thuộc sở hữu nhà nước và chính phủ có quyền trưng dụng lượng dầu thương mại khi cần, nên nhiều khả năng một ngoại lệ đã được áp dụng.

Nếu cộng 1 triệu thùng/ngày không còn được mua để tích trữ với 1,5 triệu thùng/ngày được lấy từ kho, nghiệp vụ này giải thích cho khoảng 2,5 triệu thùng/ngày trong tổng mức giảm 5,5 triệu thùng/ngày của nhập khẩu dầu Trung Quốc.

Emma Li của Vortexa ước tính Trung Quốc có thể tiếp tục duy trì chiến lược này thêm khoảng bốn tháng trước khi giới lãnh đạo Bắc Kinh bắt đầu lo ngại rằng lượng dự trữ đã xuống mức quá thấp.

Đòn bẩy thứ hai: kiểm soát xuất khẩu

Là quốc gia lọc dầu lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc vốn là một nhà cung cấp nhiên liệu lớn cho các quốc gia láng giềng châu Á.

Tuy nhiên, vào tháng 3, chính phủ yêu cầu các nhà máy lọc dầu trong nước ngừng ký các hợp đồng xuất khẩu mới và hủy bỏ hoặc thu hẹp nhiều hợp đồng đã ký.

Từ tháng 2 đến tháng 4, lượng xuất khẩu các sản phẩm dầu tinh chế của Trung Quốc giảm gần một nửa, xuống còn 430.000 thùng/ngày.

Trong đó có khoảng 180.000 thùng/ngày nhiên liệu máy bay tinh chế chất lượng cao. Việc ngừng xuất khẩu lượng nhiên liệu này giúp các nhà máy lọc dầu Trung Quốc giảm nhu cầu dầu thô khoảng 1,2-1,8 triệu thùng/ngày.

10 8 3
Giảm xuất khẩu để ưu tiên nguồn cung trong nước: Trung Quốc cắt mạnh xuất khẩu các sản phẩm dầu tinh chế, đặc biệt là nhiên liệu máy bay và naphtha, qua đó giải phóng thêm nguồn dầu cho tiêu dùng nội địa và giảm nhu cầu nhập khẩu dầu thô. (Nguồn: The Economist)

Hạn chế bán nhiên liệu ra nước ngoài cho phép Trung Quốc sử dụng nhiều sản lượng lọc dầu hơn cho thị trường nội địa.

Điều này cũng giúp các nhà máy lọc dầu chuyển một phần dầu thô vốn dùng để sản xuất hàng xuất khẩu sang sản xuất những sản phẩm thiết yếu khác mà Trung Quốc trước đây thường nhập từ vùng Vịnh.

Ví dụ gồm naphtha và khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) – hai loại nguyên liệu đầu vào của ngành hóa dầu – cùng với dầu nhiên liệu, loại nguyên liệu mà nhiều nhà máy lọc dầu nhỏ, thiếu vốn của Trung Quốc thường sử dụng thay thế dầu thô.

Lợi nhuận của các nhà máy lọc dầu chắc chắn bị ảnh hưởng, bởi xuất khẩu thường đem lại biên lợi nhuận cao hơn bán trong nước. Nhưng đây là cái giá mà Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận.

Một quá trình kéo dài âm ỉ

Tuy vậy, lượng dự trữ lớn và việc hạn chế xuất khẩu vẫn chưa đủ để lý giải quy mô khổng lồ của sự sụt giảm nhập khẩu dầu Trung Quốc.

Chính phủ nước này đã sử dụng đòn bẩy thứ ba: cắt giảm nhu cầu dầu trong nước.

Trong tháng 6, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc xử lý lượng dầu thô thấp hơn 2,7 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng xăng giảm 14%, trong khi sản lượng dầu diesel và nhiên liệu máy bay đều giảm 21%.

10 8 4
Lợi nhuận xuất khẩu cao, nhưng Bắc Kinh vẫn chọn thị trường nội địa: Biên lợi nhuận từ xuất khẩu sản phẩm dầu cao hơn đáng kể so với lọc dầu phục vụ trong nước, song Trung Quốc vẫn chấp nhận hy sinh lợi nhuận để bảo đảm an ninh năng lượng và hạn chế nhập khẩu. (Nguồn: The Economist)

Quan sát hoạt động giao thông cho thấy mức tiêu thụ nhiên liệu động cơ tại Trung Quốc thực sự giảm mạnh.

Khi chính quyền cho phép giá nhiên liệu tăng, nhiều người sống tại thành phố đã ngừng lái ô tô đi làm và chuyển sang tàu điện ngầm, xe đạp hoặc taxi, trong đó nhiều taxi chạy bằng pin điện.

Trong kỳ nghỉ lễ kéo dài một tuần vào tháng 5, lượng điện sử dụng để sạc xe điện tại các trạm dọc đường cao tốc tăng gần 55% so với một năm trước. Các chuyến tàu hỏa cũng đang thay thế một phần các chuyến bay nội địa, sau khi số lượng chuyến bay bị cắt giảm mạnh.

Chính quyền địa phương đã hoãn nhiều dự án hạ tầng, qua đó giảm nhu cầu dầu diesel.

Ciarán Healy của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ước tính Trung Quốc đã tiêu thụ ít hơn khoảng 10% xăng và dầu hỏa trong vài tháng đầu của cuộc chiến so với cùng kỳ năm trước.

Ngành hóa dầu Trung Quốc – lớn nhất thế giới – cũng đang thích nghi với điều kiện khan hiếm. Năm ngoái, ngành này sử dụng hàng triệu thùng naphtha và LPG mỗi ngày, phần lớn nhập từ vùng Vịnh, để sản xuất polymer – bao gồm nhiều loại vật liệu như PVC, cao su tổng hợp, nylon và polyester mà các nhà máy Trung Quốc sử dụng với khối lượng rất lớn.

Khi nguồn nguyên liệu từ vùng Vịnh biến mất, đồng thời chính phủ yêu cầu ưu tiên nhiên liệu hơn nguyên liệu hóa dầu, các công ty hóa dầu Trung Quốc đã tìm cách sản xuất một số loại polymer bằng than đá và ethane, một loại khí sinh ra trong quá trình chế biến dầu mỏ.

Tác động tổng thể của những biện pháp thắt lưng buộc bụng này đối với kinh tế Trung Quốc dường như vẫn trong tầm kiểm soát.

Nhiều năm đầu tư do nhà nước hỗ trợ vào năng lượng tái tạo và giao thông xanh đã khiến hệ thống năng lượng Trung Quốc linh hoạt hơn.

Nhiều năm xảy ra tình trạng “nội quyển” (involution) – tức cạnh tranh khốc liệt dẫn đến dư thừa công suất trong nhiều ngành, bao gồm hóa dầu – cũng khiến Trung Quốc tích lũy lượng tồn kho rất lớn gồm polymer và những hàng hóa sản xuất từ chúng. Những “tấm đệm” như vậy lý giải vì sao giá sản xuất không tăng vọt và giá tiêu dùng vẫn nằm trong tầm kiểm soát.

Mặc dù GDP Trung Quốc chỉ tăng 4,3% trong quý II, mức thấp nhất kể từ cuối năm 2022, nguyên nhân chủ yếu đến từ đầu tư yếu và hậu quả dai dẳng của cuộc khủng hoảng bất động sản, chứ không phải từ tình trạng thiếu dầu.

Hơn nữa, theo Michal Meidan của Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford, chính phủ Trung Quốc vẫn có thể sử dụng kho dự trữ dầu chiến lược – vốn cho tới nay hầu như chưa được động tới.

Tất nhiên, lượng dầu thô, nhiên liệu và polymer dự trữ của Trung Quốc, dù lớn hơn nhiều so với những gì giới quan sát bên ngoài từng hình dung, vẫn là hữu hạn. Một nhà phân phối cho biết ông vừa bán một lô polyethylene đã nằm trong kho của mình từ tận năm 2021.

Khác với OPEC – tổ chức có thể duy trì cắt giảm sản lượng trong nhiều năm – Trung Quốc không thể mãi mãi nhập khẩu ít hơn bình thường tới 5,5 triệu thùng dầu mỗi ngày.

Nhưng cuộc chiến Iran đã chứng minh rằng, trên thực tế, Trung Quốc có khả năng một mình ổn định thị trường dầu mỏ toàn cầu trong nhiều tháng liên tục. Đó chính là điều mà các nhà lãnh đạo của một OPEC ngày càng chia rẽ chỉ có thể ao ước.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-08-11 17:14
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/trung-quoc-quyen-luc-hon-ca-opec-mot-quyet-dinh-tu-bac-kinh-du-khien-gia-dau-the-gioi-giam-30-usd-thung-1461316.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Trung Quốc quyền lực hơn cả OPEC: Một quyết định từ Bắc Kinh đủ khiến giá dầu thế giới giảm 30 USD/thùng
    POWERED BY ONECMS & INTECH