Vụ án sầu riêng: 'Hộ chiếu' tỷ USD và những khoảng trống quản lý
Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho biết những dấu hiệu bất thường về vấn đề gian lận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã xuất hiện ngay từ khi sầu riêng bắt đầu xuất khẩu chính ngạch.
Khuất tất trong quản lý mã số vùng trồng
Theo thông tin Bộ Công an công bố ngày 28/7, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03, Bộ Công an) đã khởi tố, bắt tạm giam Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung cùng nhiều cán bộ, doanh nghiệp để điều tra các hành vi nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Cơ quan điều tra đồng thời xác định các bị can có dấu hiệu ban hành chính sách trái pháp luật, tạo "giấy phép con", can thiệp việc cấp khống giấy kiểm nghiệm, mã số vùng trồng và mua bán trái phép mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho biết những dấu hiệu bất thường về vấn đề gian lận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã xuất hiện ngay từ khi sầu riêng bắt đầu xuất khẩu chính ngạch.
Năm 2022, diện tích sầu riêng được phía Trung Quốc phê duyệt mới khoảng 3.000 ha, tương ứng sản lượng khoảng 68.000 tấn/năm, trong khi lượng hàng doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu có thời điểm lên tới 1,3 triệu tấn. Khoảng cách quá lớn giữa năng lực vùng trồng được cấp mã và lượng hàng đăng ký xuất khẩu đã làm dấy lên nghi vấn sử dụng mã số không đúng nguồn gốc.
Theo ông Nguyên, ngay trong giai đoạn 2022-2023, khi xuất khẩu sầu riêng tăng trưởng nóng, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đã nhiều lần nhận được phản ánh của doanh nghiệp về tình trạng thuê, mượn hoặc mua bán mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.
Hiện tượng này xuất hiện khi một số doanh nghiệp có sản lượng nhưng chưa được cấp mã, trong khi nơi khác có mã số nhưng không sử dụng hết.
"Có nơi dư mã số nhưng thiếu hàng, có nơi có hàng lại thiếu mã số. Khi đó xuất hiện đủ các hình thức thuê, mượn hoặc chuyển quyền sử dụng mã số để hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu", ông Nguyên cho biết.

Theo phản ánh từ doanh nghiệp mà PV Tiền Phong từng nhận được, có thời điểm chi phí để hoàn thiện một bộ hồ sơ xuất khẩu lên tới hàng trăm triệu đồng/container, gồm mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và giấy kiểm nghiệm. Trong đó, mỗi mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói từng được giao dịch khoảng 120 triệu đồng; giấy kiểm nghiệm cũng ở mức tương tự, khiến tổng chi phí ngoài luồng có thể lên tới 300-360 triệu đồng/container.
Không chỉ phát sinh giao dịch mua bán mã số, quy trình xử lý hồ sơ cấp mã cũng bộc lộ nhiều bất cập. Trước đây, sau khi được cơ quan chuyên môn địa phương kiểm tra, hồ sơ đều tập trung về Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật để thẩm định trước khi chuyển sang Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) xem xét phê duyệt. Trong khi đó, doanh nghiệp hầu như không thể theo dõi hồ sơ đang được xử lý đến đâu, thời điểm chuyển sang phía Trung Quốc hay lý do hồ sơ của đơn vị này được giải quyết trước đơn vị khác.
"Nếu toàn bộ tiến độ xử lý không được công khai thì rất dễ hình thành sự khan hiếm giả tạo của mã số và phát sinh cơ chế xin - cho", ông Nguyên nhận định.
Không chỉ khâu cấp mã, công tác hậu kiểm sau khi được phê duyệt cũng bộc lộ nhiều khoảng trống. Trong khi việc thẩm định chủ yếu diễn ra ở thời điểm cấp mã, điều quan trọng hơn là vùng trồng và cơ sở đóng gói phải duy trì đầy đủ các điều kiện trong suốt quá trình sản xuất, thu mua và xuất khẩu.
Đến tháng 5/2025, Việt Nam có 1.396 mã số vùng trồng và 188 mã số cơ sở đóng gói được phía Trung Quốc phê duyệt. Tuy nhiên, chỉ từ năm 2025 đến tháng 5/2026 đã có 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói bị phía Trung Quốc cảnh báo không tuân thủ quy định.
Khi dữ liệu giữa vùng trồng, cơ sở đóng gói, phòng thử nghiệm và cơ quan quản lý chưa được kết nối, việc phát hiện một mã số xuất lượng hàng vượt quá năng lực thực tế, cơ sở đóng gói thu mua ngoài vùng đăng ký hay một mã số được sử dụng cho nhiều lô hàng vẫn chủ yếu dựa vào kiểm tra thủ công hoặc cảnh báo từ phía nước nhập khẩu.
Lá chắn cuối cùng bị xuyên thủng
Nếu mã số vùng trồng được ví như "hộ chiếu" thì kiểm nghiệm là "chốt chặn" cuối cùng trước khi lô sầu riêng được xuất khẩu. Do đó, chỉ kiểm soát ở khâu cuối là chưa đủ bởi một container thường được thu gom từ nhiều nhà vườn, nhiều vùng nguyên liệu khác nhau.
Theo ông Nguyên, việc lấy một số mẫu đại diện chưa chắc phản ánh đúng chất lượng của cả lô hàng. Nếu khâu lấy mẫu, niêm phong và giám sát thiếu chặt chẽ, hàng vẫn có thể vượt qua phòng thử nghiệm trong nước nhưng bị phía Trung Quốc phát hiện vi phạm.

"Tại Thái Lan, việc kiểm soát được thực hiện ngay từ vùng trồng, các vườn đăng ký xuất khẩu đều được lấy mẫu, đánh giá trước khi thu hoạch. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam thu mua từ nhiều nhà vườn rồi mới lấy mẫu kiểm nghiệm. Khi lô hàng không đạt yêu cầu, doanh nghiệp phải gánh toàn bộ chi phí thu mua, đóng gói, vận chuyển, thậm chí mất luôn thị trường", ông Nguyên cho hay.
Sau khi Trung Quốc siết chặt kiểm soát cadimi và vàng O, các phòng thử nghiệm trong nước cũng thận trọng hơn trong việc trả kết quả. Nếu kết quả của Việt Nam không trùng khớp với kết quả kiểm tra của phía Trung Quốc, phòng thử nghiệm có thể bị đình chỉ hoặc loại khỏi danh sách được công nhận.
Đến cuối tháng 6 năm nay, Việt Nam có 30 phòng thử nghiệm được phía Trung Quốc công nhận xét nghiệm cadimi, 31 phòng xét nghiệm vàng O và 37 cơ sở đủ điều kiện thực hiện một hoặc cả hai chỉ tiêu.
Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, giải pháp để ngành hàng tỷ USD của Việt Nam khắc phục những bất cập hiện nay là sớm mở rộng năng lực xét nghiệm, đồng thời cần số hóa toàn bộ quy trình từ cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến lấy mẫu, trả kết quả kiểm nghiệm và kết nối dữ liệu với hải quan. Khi toàn bộ chuỗi được quản lý trên cùng một nền tảng, cơ quan chức năng không chỉ phát hiện sớm các dấu hiệu gian lận mà còn thu hẹp khoảng trống cho cơ chế "xin - cho", tình trạng mua bán mã số hay hợp thức hóa giấy kiểm nghiệm.
