Xã có diện tích lớn nhất Việt Nam, diện tích bằng 1/2 tỉnh Hưng Yên, là nơi có cây di sản hơn 100 tuổi được tổ chức kỷ lục châu Á vinh danh
Nơi đây được kỳ vọng sẽ là một trong những điểm đến nổi bật được nhiều du khách trong, ngoài nước biết đến.
Sau sắp xếp, điều chỉnh đơn vị hành chính cấp xã tại 34 tỉnh, thành phố trên cả nước, xã Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk mới) chính thức trở thành xã có diện tích lớn nhất Việt Nam. Thông tin được xác định theo số liệu tại Công văn số 2896/BNV-CQĐP năm 2025 của Bộ Nội vụ.

Theo phương án sắp xếp, xã Buôn Đôn được hình thành trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Krông Na (thuộc huyện Buôn Đôn cũ). Việc đổi tên từ Krông Na sang Buôn Đôn không chỉ nhằm thống nhất địa danh hành chính mà còn mang ý nghĩa gìn giữ, kế thừa một tên gọi gắn liền với lịch sử, văn hóa và bản sắc của vùng đất Tây Nguyên.
Sau sáp nhập, xã Buôn Đôn mới có diện tích tự nhiên lên tới 1.113,79 km2, tương đương gần một nửa diện tích tỉnh Hưng Yên. Quy mô dân số của xã đạt 6.582 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 75%.
Không chỉ là xã có diện tích lớn nhất tỉnh Đắk Lắk và cả nước, Buôn Đôn còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới. Địa bàn xã chủ yếu là đồi núi, rừng tự nhiên, địa hình bị chia cắt phức tạp, tiếp giáp khu vực biên giới, đòi hỏi yêu cầu cao trong công tác quản lý hành chính, bảo vệ rừng, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên và ổn định đời sống dân cư.

Song hành với vai trò địa - chính trị, Buôn Đôn là vùng đất giàu giá trị văn hóa - lịch sử, gắn liền với truyền thống lâu đời của các cộng đồng dân tộc bản địa. Tiêu biểu là cây bồ đề hơn 100 năm tuổi tại buôn Yang Lành, đã được Tổ chức Kỷ lục châu Á và Hội Kỷ lục gia Việt Nam ghi nhận là cây trồng lâu năm nhất vùng Tây Nguyên; năm 2015 tiếp tục được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
Buôn Đôn cũng nổi tiếng với ngôi nhà cổ hơn 140 năm tuổi của Y Thu K’nul (1828-1938), người được xem là “Vua săn voi” của vùng đất này. Ngôi nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ theo kiến trúc chùa tháp Lào - Thái. Ngôi nhà là minh chứng sinh động cho thời kỳ hưng thịnh của nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng - nghề từng làm nên danh tiếng Bản Đôn.
Dù nghề săn voi không còn tồn tại, các giá trị lịch sử vẫn được lưu giữ thông qua hệ thống hiện vật, nhà cổ và khu nhà mồ tại bìa rừng buôn Trí A - nơi an nghỉ của nhiều thợ săn voi lừng danh, trong đó có hai ngôi mộ của cha con Y Thu K’nul và R’Leo K’nul. Kiến trúc mộ thể hiện sự giao thoa hài hòa giữa văn hóa M’nông và Lào, trở thành không gian văn hóa tâm linh đặc sắc của địa phương.

Bên cạnh đó, cộng đồng người Việt gốc Lào sinh sống tại Buôn Đôn vẫn duy trì nhiều phong tục, tập quán truyền thống như Tết Bunpimay, múa lăm vông, ẩm thực và âm nhạc dân gian, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc và vun đắp mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Lào.
Với diện tích đặc biệt lớn, vị trí chiến lược và hệ thống di sản văn hóa - lịch sử phong phú, xã Buôn Đôn không chỉ giữ kỷ lục về địa lý hành chính mà còn là không gian lưu giữ những giá trị tiêu biểu của văn hóa Tây Nguyên, mở ra nhiều tiềm năng phát triển bền vững gắn với bảo tồn sinh thái, văn hóa và an ninh biên giới trong thời gian tới.
