Giáo sư Toán học là nữ Tiến sĩ khoa học trẻ nhất Việt Nam, con gái nguyên Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Dành gần trọn cuộc đời cho Toán học, sự ra đi của Giáo sư Lê Hồng Vân để lại phía sau những công trình chưa hoàn tất và niềm tiếc thương trong giới khoa học.
Mới đây, thông tin Giáo sư Toán học Lê Hồng Vân qua đời ngày 2/9 tại Prague, Cộng hòa Czech, để lại nhiều tiếc nuối trong giới khoa học. Bà là một trong những nhà Toán học Việt Nam có hành trình nghiên cứu nổi bật tại châu Âu, lập kỷ lục và được nhận nhiều giải thưởng quốc tế.
Theo thông tin từ gia đình, tang lễ của bà được cử hành vào chiều 11/9 (theo giờ địa phương), tại Đài hỏa táng Strašnice ở Vinohrady, Praha.
Giáo sư Lê Hồng Vân sinh năm 1961 trong một gia đình có truyền thống học thuật. Bà là con gái thứ hai của nguyên Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) Lê Văn Giạng. Mẹ của bà làm việc tại Nhà Xuất bản Kim Đồng.
Các thành viên trong gia đình đều là những trí thức thành danh. Chị gái của bà là Tiến sĩ Lê Hoàng Lan, nhà hóa học; em gái - Tiến sĩ Lê Ngọc Mai, nhà văn.

Từ nhỏ, bà đã bộc lộ năng khiếu đặc biệt với môn Toán và trúng tuyển khối chuyên Toán của Đại học Tổng hợp Hà Nội, tiền thân của Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên.
Năm 1977, khi mới 16 tuổi, bà trở thành nữ sinh duy nhất có tên trong đội tuyển Việt Nam chuẩn bị tham dự Olympic Toán học quốc tế (IMO). Tuy nhiên, năm ấy, đội tuyển Việt Nam không thể sang nước ngoài dự thi do điều kiện kinh phí.

Sau đó, bà được cử sang Liên Xô học Toán tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva (MGU). Nhờ thành tích học tập nổi bật, bà được chọn làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của Giáo sư A.T. Fomenko.
Năm 1987, ở tuổi 26, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề tài "Mặt cực tiểu trong không gian thuần nhất". Sau đó, bà được đề nghị tiếp tục chương trình Tiến sĩ khoa học.
Hai năm sau, bà bảo vệ công trình "Các chuẩn định hiệu quả trong lý thuyết mặt cực tiểu" và ở tuổi 28 trở thành người phụ nữ Việt Nam trẻ nhất được trao bằng Tiến sĩ khoa học.
Năm 1990, Giáo sư Lê Hồng Vân cũng trở thành người nước ngoài đầu tiên được trao Giải thưởng của Hội Toán học Moskva. Đây là giải thưởng thường niên, được trao cho các nhà toán học dưới 30 tuổi đang làm việc tại Moskva, khi đó là một trong những trung tâm Toán học lớn của Liên bang Xô viết.
Một năm sau, bà tiếp tục được vinh danh với Giải Majorana dành cho các nhà khoa học trẻ đến từ những nước đang phát triển, do Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế (ICTP) tại Italy trao tặng. Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên nhận giải sau gần một thập kỷ giải thưởng được thành lập.
Sau những dấu mốc tại Moskva, bà nhận học bổng Heisenberg và sang Đức nghiên cứu tại Viện Max-Planck ở Bonn và Viện Toán Leipzig, hai trung tâm nghiên cứu toán học uy tín của nước này. Trong thời gian làm việc tại Đức, bà kết hôn với một nhà khoa học người Đức và có hai người con. Hiện các con của bà đều sống ở Đức.
Sau một thời gian trở về Việt Nam công tác tại Viện Toán học, năm 2005, Giáo sư Lê Hồng Vân sang Cộng hòa Czech và bắt đầu làm việc tại Viện Toán thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Czech (CAS).
Bà nghiên cứu nhiều đề tài, bắt đầu với hình học vi phân rồi dần mở rộng sang tô pô symplectic, giải tích hình học, lý thuyết biểu diễn, thống kê hình học và học máy. Đặc biệt, bà từng 3 lần giữ vai trò chủ nhiệm các đề tài do Chính phủ Czech tài trợ và công bố gần 70 công trình khoa học.
Năm 2017, Springer Nature xuất bản cuốn Information Geometry (Hình học thông tin), trong đó Giáo sư Lê Hồng Vân là đồng tác giả.
Đến năm 2020, Giáo sư Lê Hồng Vân cùng em rể và các cộng sự tham gia một trong những nhóm nghiên cứu sớm ứng dụng lý thuyết wavelet vào mô hình hóa diễn biến dịch tễ Covid-19. Phương pháp này được sử dụng để lý giải các mô hình đa trung tâm, đồng thời cho thấy dịch bệnh có thể diễn biến qua nhiều làn sóng thay vì chỉ một đợt, qua đó hỗ trợ nhận diện nguy cơ xuất hiện những đợt bùng phát mới.
Bên cạnh nghiên cứu, bà còn tích cực viết sách, tham dự các hội nghị và giảng dạy tại nhiều cơ sở nghiên cứu, đại học ở nước ngoài. Bà từng là diễn giả tại các hội thảo chuyên ngành ở Hàn Quốc, Italy, Pháp; đồng thời có các buổi giảng tại Đại học Kyoto (Nhật Bản), Đại học Cambridge (Anh) và Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (Việt Nam).
Những năm cuối đời, bà tập trung vào hướng nghiên cứu giao thoa giữa Toán học và công nghệ, đặc biệt là ứng dụng hình học vi phân và hình học hyperbolic vào học máy và trí tuệ nhân tạo.
Bà qua đời để lại nhiều công trình nghiên cứu chưa kịp hoàn thành. Trong số đó có một cuốn sách hơn 600 trang về nền tảng toán học của trí tuệ nhân tạo và khoảng 200 trang bản thảo các bài báo nghiên cứu về những vấn đề của hình học hiện đại.