TS. Nguyễn Minh Thảo cảnh báo rủi ro doanh nghiệp có thể gặp khi chuyển từ ‘tiền kiểm’ sang ‘hậu kiểm’
Nếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn và hướng dẫn thực hiện chưa rõ ràng, doanh nghiệp vẫn có thể rơi vào tình trạng không biết mình làm đúng hay sai. Khi vi phạm chỉ được phát hiện sau khi hoạt động kinh doanh đã diễn ra, chi phí khắc phục thậm chí có thể lớn hơn nhiều so với việc xử lý vướng mắc ngay từ đầu”, bà Thảo cảnh báo.
Tham luận tại tọa đàm “Đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, gỡ rào cản cho doanh nghiệp phát triển”, TS. Nguyễn Minh Thảo, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, cho rằng tư duy cải cách môi trường kinh doanh thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là chuyển các chủ trương thành thay đổi thực chất trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Theo bà Thảo, cải cách môi trường kinh doanh cần tập trung vào ba mục tiêu: giảm thời gian thực hiện thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và bảo đảm môi trường hoạt động an toàn cho doanh nghiệp.
Theo mục tiêu được nêu tại Kết luận số 18-KL/TW, trong năm 2026, thời gian giải quyết thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính được đặt mục tiêu giảm 50% so với năm 2024. Đồng thời, tiếp tục cắt giảm tối thiểu 30% ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, loại bỏ 100% điều kiện kinh doanh không cần thiết và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Dù vậy, bà Thảo nhấn mạnh kết quả cải cách không thể chỉ đo bằng số lượng thủ tục hay điều kiện kinh doanh được cắt giảm. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp có thực sự tiết kiệm thời gian, chi phí và thuận lợi hơn khi thực hiện các quy định hay không.
Hậu kiểm không rõ ràng, doanh nghiệp có thể trả giá đắt
Một trong những định hướng đáng chú ý là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, kết hợp quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Thay vì đặt nặng các điều kiện trước khi doanh nghiệp gia nhập thị trường, cơ quan quản lý cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế giám sát phù hợp để kiểm tra việc tuân thủ trong quá trình hoạt động.
Tuy nhiên, theo bà Thảo, chuyển sang hậu kiểm không đồng nghĩa với việc giảm nhẹ trách nhiệm tuân thủ của doanh nghiệp. Nếu thiếu hướng dẫn rõ ràng, cách tiếp cận này có thể tạo ra những rủi ro mới.
“Nếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn và hướng dẫn thực hiện chưa rõ ràng, doanh nghiệp vẫn có thể rơi vào tình trạng không biết mình làm đúng hay sai. Khi vi phạm chỉ được phát hiện sau khi hoạt động kinh doanh đã diễn ra, chi phí khắc phục thậm chí có thể lớn hơn nhiều so với việc xử lý vướng mắc ngay từ đầu”, bà Thảo cảnh báo.
Vì vậy, cải cách điều kiện kinh doanh không thể chỉ dừng ở việc chuyển khâu kiểm tra từ trước sang sau khi doanh nghiệp hoạt động. Điều kiện tiên quyết là quy định phải minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, đi kèm cơ chế giám sát phù hợp với mức độ rủi ro của từng lĩnh vực.
Bà Thảo cũng lưu ý nguy cơ cải cách hình thức khi chính sách thay đổi nhưng cách thức thực thi không chuyển biến tương ứng. Việc ứng dụng công nghệ, mở rộng thủ tục hành chính điện tử sẽ khó phát huy hiệu quả nếu quy trình vẫn phức tạp, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng những yêu cầu không cần thiết.

Sửa luật liên tục nhưng doanh nghiệp vẫn vướng
Một điểm nghẽn khác được TS. Nguyễn Minh Thảo nhấn mạnh là khoảng cách giữa tiến độ sửa đổi văn bản pháp luật và hiệu quả thực thi.
Theo bà, hệ thống pháp luật đã liên tục được rà soát, bổ sung để tháo gỡ những bất cập về thể chế. Tuy nhiên, việc sửa đổi từng văn bản riêng lẻ đôi khi lại phát sinh mâu thuẫn với các quy định khác, khiến doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn khi triển khai dự án.
Bà dẫn lại việc năm 2015, đơn vị của bà từng nhận diện 37 vấn đề chồng chéo liên quan đến pháp luật về đầu tư, đất đai và xây dựng để kiến nghị xử lý. Những vướng mắc này cho thấy các điểm nghẽn pháp lý cần được nhận diện và tháo gỡ đồng bộ, thay vì xử lý rời rạc từng quy định.
Theo bà Thảo, tư duy quản lý cũng cần thay đổi thực chất, đặc biệt là việc từ bỏ quan điểm “không quản được thì cấm” và xóa bỏ cơ chế xin - cho. Những định hướng này phải được thể chế hóa và thẩm thấu vào quá trình thực thi, thay vì chỉ dừng ở các văn bản chỉ đạo.
Báo cáo B-READY 2025 của Ngân hàng Thế giới cũng cho thấy Việt Nam còn dư địa cải thiện môi trường kinh doanh. Theo số liệu bà Thảo dẫn lại, Việt Nam đạt 67,03/100 điểm ở trụ cột khung pháp lý, 53,93 điểm về dịch vụ công và 70,44 điểm ở trụ cột hiệu quả hoạt động.
Dù trụ cột hiệu quả hoạt động thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, các chỉ số trong từng giai đoạn vòng đời doanh nghiệp vẫn chủ yếu ở mức trung bình. Theo bà, đây là thách thức đối với mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh vào năm 2030.
Muốn có 2 triệu doanh nghiệp, không thể chỉ khuyến khích thành lập mới
Theo TS. Nguyễn Minh Thảo, niềm tin là yếu tố quan trọng của môi trường kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có thể yên tâm đầu tư dài hạn khi quy định minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý và chính sách được thực thi nhất quán.
Một chỉ dấu đáng chú ý là tương quan giữa số doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường đang thu hẹp. Giai đoạn 2018-2021, số doanh nghiệp gia nhập thị trường thường cao gấp 2-4 lần số rút lui. Đến 9 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 1,3 lần.
Bà Thảo cho rằng diễn biến này cho thấy khu vực doanh nghiệp cần thêm trợ lực từ chính sách và quá trình thực thi. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030, cải cách không thể chỉ hướng tới khuyến khích thành lập mới mà còn phải giúp doanh nghiệp hiện hữu duy trì hoạt động, mở rộng quy mô và nâng cao khả năng chống chịu.
Một số chính sách gần đây được kỳ vọng tạo chuyển biến, trong đó có việc cắt giảm 62 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, dự kiến giảm khoảng 786 điều kiện kinh doanh và đơn giản hóa 232 thủ tục hành chính theo thông tin về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư được nêu tại tọa đàm.
Nghị định số 385/2026/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực từ ngày 10/10/2026, cũng hướng tới nâng cao chất lượng kiểm soát quá trình xây dựng, thực hiện và rà soát thủ tục.
Tuy nhiên, theo bà Thảo, vấn đề cốt lõi vẫn là các cải cách này có giải quyết được những vướng mắc doanh nghiệp đang gặp phải hay không. Nếu chỉ giảm số lượng quy định mà không thay đổi cách áp dụng và thực thi, tác động tích cực của chính sách sẽ khó đến được với doanh nghiệp.
Để cải thiện thực chất môi trường kinh doanh, bà đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, ổn định, dễ hiểu và dễ thực hiện; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và giảm chi phí tuân thủ. Thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa theo quy mô, tính chất và mức độ rủi ro của hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, chất lượng thực thi phải trở thành trọng tâm cải cách, với sự chỉ đạo thường xuyên của người đứng đầu, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả cụ thể. Cơ quan quản lý cần tăng chất lượng phục vụ, kịp thời tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp, đồng thời có cơ chế khuyến khích những đơn vị, cá nhân thực hiện tốt.
“Cải cách môi trường kinh doanh là một trong những giải pháp ít tốn kém nhưng có thể mang lại hiệu quả cao”, bà Thảo nhận định.