Đảng viên giao dịch trái phép tài sản mã hóa có thể bị khai trừ
Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 bổ sung hành vi mua bán, trao đổi trái phép tài sản mã hóa, tài sản số của người khác vào nhóm vi phạm.
Giao dịch trái phép tài sản mã hóa của người khác có thể bị khai trừ
Theo Điều 42 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm, các hành vi liên quan đến tài sản mã hóa, tài sản số trên không gian mạng có thể bị áp dụng hình thức kỷ luật khai trừ.
Cụ thể, tại điểm g khoản 3 Điều 42 quy định, đảng viên thực hiện các hành vi trên không gian mạng như làm giả, lưu hành, trộm cắp, mua bán, thu thập, trao đổi trái phép thông tin thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng, tài sản mã hóa, tài sản số của người khác sẽ bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ.
Quy định này cũng áp dụng với các hành vi phát hành, cung cấp, sử dụng trái phép phương tiện thanh toán hoặc giả mạo giấy tờ của cơ quan, tổ chức.
Ngoài ra, đảng viên cho mượn, cho thuê, mở hộ tài khoản ngân hàng, thông tin thẻ ngân hàng hoặc ví điện tử để người khác sử dụng vào mục đích bất hợp pháp cũng thuộc trường hợp bị khai trừ.
Một điểm mới khác tại khoản 3 Điều 42 là đảng viên trực tiếp tham gia hoặc vận động, lôi kéo người khác tham gia hoạt động kinh doanh đa cấp chưa được cấp phép, các sàn giao dịch tài chính, tiền ảo trái quy định pháp luật cũng có thể bị khai trừ.
So với Quy định 69-QĐ/TW trước đây, Quy định 212-QĐ/TW đã bổ sung rõ các hành vi liên quan đến tài sản mã hóa, tài sản số và hoạt động trên không gian mạng trong nhóm vi phạm về tài chính, ngân hàng.

Dịch vụ tài sản mã hóa phải lập hóa đơn theo quy định mới
Bên cạnh quy định về kỷ luật đảng viên, hoạt động tài sản mã hóa cũng được bổ sung các quy định về hóa đơn, thuế.
Theo Điều 9 Nghị định 254/2026/NĐ-CP, thời điểm lập hóa đơn đối với dịch vụ tài sản mã hóa là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ, không phụ thuộc vào việc bên cung cấp đã thu được tiền hay chưa.
Trường hợp đơn vị cung cấp dịch vụ thu tiền trước hoặc trong quá trình cung cấp dịch vụ, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu tiền. Quy định này không áp dụng với khoản tiền đặt cọc nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Đối với dịch vụ có số lượng lớn, phát sinh thường xuyên và cần thời gian đối soát dữ liệu giữa doanh nghiệp với khách hàng, thời điểm lập hóa đơn là khi hoàn thành việc đối soát. Tuy nhiên, thời điểm này không được muộn hơn ngày 7 của tháng sau tháng phát sinh dịch vụ hoặc quá 7 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ quy ước.
Trường hợp giao dịch tài sản mã hóa có hệ thống phần mềm quản lý chi tiết từng giao dịch và lưu trữ dữ liệu thu tiền, doanh nghiệp phải chuyển cơ sở dữ liệu giao dịch phát sinh cho cơ quan thuế theo quy định.
Đơn vị cung cấp dịch vụ chịu trách nhiệm đảm bảo tính chính xác của thông tin giao dịch, lưu trữ đầy đủ dữ liệu, chứng từ và cung cấp cho cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu.