Gia đình hiếm hoi tại Việt Nam có 3 anh em đều là lãnh đạo cấp cao, 2 người từng giữ chức Bộ trưởng
Họ là những người con sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Dòng họ Phan ở Nam Định từ lâu được biết đến với truyền thống khoa cử. Qua nhiều thế hệ, trong dòng họ đều có người học hành đỗ đạt, được bổ nhiệm và phong quan.
Trong số đó phải kể đến gia đình cụ Phan Đình Quế và cụ Đinh Thị Hoàng. Hai cụ có 5 người con, 3 người tham gia cách mạng và cả 3 sau này đều trở thành những cán bộ lãnh đạo cấp cao có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, gồm các ông Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải), Đinh Đức Thiện (Phan Đình Dinh) và Mai Chí Thọ (Phan Đình Đống).
Ông Lê Đức Thọ - nhà ngoại giao kiệt xuất từ chối giải Nobel
Đồng chí Lê Đức Thọ tên thật Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay là phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình). Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1926, khi còn là học sinh.
Tháng 10/1929, ông được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, làm Bí thư chi bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên học sinh. Tháng 11/1930, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù khổ sai và đày ra Côn Đảo. Tại đây, ông được cấp ủy chi bộ nhà tù cử làm Bí thư chi bộ và Thường vụ chi ủy nhà tù.
Ra tù năm 1936, ông được giao phụ trách công tác báo chí công khai của Đảng bộ và xây dựng cơ sở bí mật của Đảng ở Nam Định. Từ năm 1939 đến 1944, ông tiếp tục bị thực dân Pháp bắt giam tại các nhà tù Hà Nội, Sơn La và Hòa Bình. Sau khi ra tù tháng 9/1944, ông được Trung ương Đảng giao phụ trách công tác khu an toàn của Trung ương, công tác tổ chức và huấn luyện cán bộ.

Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Lê Đức Thọ lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng. Năm 1948, ông tham gia Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào miền Nam công tác, năm 1949 làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam.
Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương. Cuối năm 1956, ông được phân công làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Tại Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tiếp tục giữ trọng trách Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông được Bộ Chính trị cử vào miền Nam, nhưng đến tháng 5/1968 được gọi ra miền Bắc để phụ trách công tác đấu tranh ngoại giao. Ông làm cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Mỹ.
Sau gần 5 năm đàm phán công khai và bí mật, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Cũng trong năm 1973, đồng chí Lê Đức Thọ được trao giải Nobel Hòa bình cùng Henry Kissinger nhưng ông từ chối nhận giải. Ông trở thành người đầu tiên và cho đến nay vẫn là người duy nhất trên thế giới từ chối giải Nobel Hòa bình.
Sau Hội nghị Paris, ông được phân công làm Trưởng ban miền Nam của Đảng. Cuối tháng 3/1975, ông vào chiến trường, cùng Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam lãnh đạo, chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông Lê Đức Thọ tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách ở các vị trí lãnh đạo khác nhau.

Với 64 năm hoạt động cách mạng, ông Lê Đức Thọ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và đất nước. Ông được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý; Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười, Đảng và Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăngco.
Thượng tướng Đinh Đức Thiện - “người anh cả” của ngành Hậu cần
Thượng tướng Đinh Đức Thiện tên thật Phan Đình Dinh (1913-1987), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Ông là em ruột nhà ngoại giao Lê Đức Thọ và là cán bộ lão thành cách mạng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực quân sự, hậu cần, kỹ thuật và kinh tế.
Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Tháng 4/1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Nam Định, sau đó chuyển đến Hỏa Lò. Ra tù năm 1943, ông tiếp tục hoạt động cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Bắc Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đảm nhiệm nhiều vị trí trước khi được điều vào quân đội cuối năm 1949, giữ chức Cục trưởng, Bí thư Đảng ủy Cục Vận tải.
Năm 1959, ông được điều sang ngành công nghiệp nặng, làm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng kiêm Chỉ huy trưởng và Bí thư Đảng ủy Công trường xây dựng Khu Gang thép Thái Nguyên. Sau hơn 3 năm xây dựng, công trình bắt đầu cho những mẻ gang đầu tiên từ cuối năm 1963.

Đầu năm 1965, ông trở lại quân đội, giữ chức Chủ nhiệm, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Hậu cần, trực tiếp phụ trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia. Được ví như “người anh cả” của ngành Hậu cần, ông có nhiều đóng góp trong xây dựng tuyến Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, tổ chức lực lượng vận tải cơ giới, mở đường ô tô, xây dựng hệ thống đường ống dẫn xăng và bảo đảm hậu cần cho các chiến trường.
Mùa Xuân 1975, ông tham gia chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên và được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách trong lĩnh vực kinh tế, góp phần đặt nền móng cho ngành Dầu khí và khôi phục giao thông vận tải như Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim…

Năm 1982, ông được bầu làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách hậu cần, kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng. Tháng 1/1986, ông được phong quân hàm Thượng tướng.
Với những đóng góp trong nhiều lĩnh vực, Thượng tướng Đinh Đức Thiện được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng I, Huân chương Chiến thắng hạng I, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng và Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
Đại tướng Mai Chí Thọ - vị tướng đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân
Người con út trong gia đình cụ Phan Đình Quế và cụ Đinh Thị Hoàng là Đại tướng Mai Chí Thọ (1922-2007), tên thật Phan Đình Đống. Ông là vị tướng đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân được phong hàm Đại tướng.
14 tuổi, ông Mai Chí Thọ đã bắt đầu dấn thân vào con đường cách mạng. Đến năm 19 tuổi, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông hoạt động chủ yếu tại miền Nam. Đây cũng là địa bàn ông có nhiều năm gắn bó với phong trào cách mạng, trước khi tiếp tục đảm nhiệm các trọng trách trong bộ máy lãnh đạo sau ngày đất nước thống nhất.
Sau năm 1975, Mai Chí Thọ lần lượt giữ nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng tại TP. Hồ Chí Minh, trong đó có Giám đốc Công an, Phó Bí thư Thành ủy và Chủ tịch UBND thành phố. Trong quá trình công tác, ông cùng các đồng chí Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt tham gia khởi xướng, thúc đẩy những đổi mới về kinh tế - xã hội tại TP. Hồ Chí Minh trước thời điểm Đổi mới năm 1986.

Năm 1986, ông được điều ra Trung ương, giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an sau đó được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Công an. Cũng tại Đại hội VI của Đảng, ông được bầu vào Bộ Chính trị khóa VI. Ông đồng thời là Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VII và VIII.
Ngày 12/1/2007, ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng - phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam. Bên cạnh đó, ông còn được trao tặng nhiều huân chương, huy hiệu cao quý khác như Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và Huân chương Lao động hạng Nhất...
Để ghi nhớ công lao và những đóng góp của 3 anh em ông Lê Đức Thọ đối với sự nghiệp cách mạng, tên các ông đã được đặt cho nhiều con đường, tuyến phố và công trình trên cả nước. Những tên gọi ấy không chỉ là sự ghi nhận đối với những người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, mà còn góp phần lưu giữ dấu ấn về một gia đình giàu truyền thống yêu nước của quê hương Nam Định.
Bài viết sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Thân thế và sự nghiệp của Thượng tướng Đinh Đức Thiện - Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
- Đồng chí Lê Đức Thọ - một nhân vật lịch sử với những trọng trách lớn - Báo Cao Bằng điện tử
- Đồng chí Mai Chí Thọ - Nhà lãnh đạo luôn son sắt vì dân - CTTĐT Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh