HDS lãi gần 900 tỷ đồng sau khi HDBank nâng sở hữu: Gần 90% doanh thu đến từ phát hành, tư vấn và tự doanh
BCTC riêng lẻ quý II cho thấy HDS tăng tốc nhờ phí thị trường vốn và danh mục hơn 10.000 tỷ đồng nghiêng mạnh về trái phiếu.
Một quý tạo phần lớn lợi nhuận bán niên
CTCP Chứng khoán HD (HDS) ghi nhận kết quả kinh doanh quý II trong giai đoạn thay đổi đồng thời về sở hữu và quy mô vốn. Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank) nâng tỷ lệ nắm giữ tại công ty chứng khoán này lên 90%, tương ứng 986.462.382 cổ phần, qua đó đưa HDS thành công ty con và bắt đầu hợp nhất kết quả kinh doanh từ quý II.
Báo cáo tài chính riêng lẻ quý II ghi nhận doanh thu hoạt động đạt 1.427 tỷ đồng, tăng 171,1% so với cùng kỳ. Trong cùng giai đoạn, chi phí hoạt động giảm 15% xuống 185 tỷ đồng. Doanh thu tăng thêm 901 tỷ đồng, còn chi phí hoạt động giảm 33 tỷ đồng, tạo chênh lệch đáng kể giữa tốc độ mở rộng nguồn thu và biến động chi phí.
Nhờ đó, HDS đạt 1.118 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 293,5%; lợi nhuận sau thuế đạt 894 tỷ đồng, tăng 295,9%. Biên lợi nhuận sau thuế tăng từ 42,7% lên 62,5%, tương ứng thêm 19,9 điểm phần trăm. Sau 6 tháng, công ty ghi nhận 1.888 tỷ đồng doanh thu hoạt động, 1.470 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế và 1.178 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế.
Riêng quý II đóng góp khoảng 76% lợi nhuận sau thuế bán niên. Phần lợi nhuận đã thực hiện đạt 975 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với 142 tỷ đồng lợi nhuận chưa thực hiện. Lũy kế 6 tháng, hai chỉ tiêu này lần lượt ở mức 1.351 tỷ đồng và 119 tỷ đồng, cho thấy kết quả trong kỳ chủ yếu đến từ giao dịch và nghiệp vụ đã ghi nhận, bên cạnh tác động từ đánh giá lại tài sản tài chính.

Phí thị trường vốn và tự doanh là nguồn thu chính
Trong cơ cấu quý II, bảo lãnh, đại lý phát hành và tư vấn tài chính là mảng đóng góp lớn nhất. Các nghiệp vụ này mang về 721 tỷ đồng, chiếm hơn 50% doanh thu hoạt động. Trong đó, bảo lãnh và đại lý phát hành đạt 601 tỷ đồng, còn tư vấn tài chính đạt 120 tỷ đồng.
Chi phí trực tiếp của bảo lãnh và đại lý phát hành chỉ khoảng 4 tỷ đồng. Khoảng cách lớn giữa doanh thu và chi phí trực tiếp giúp mảng này đóng góp đáng kể vào biên lợi nhuận chung. Một phần chi phí nhân sự, vận hành và hệ thống được ghi nhận trong chi phí quản lý, song số liệu trong kỳ vẫn cho thấy nguồn phí thị trường vốn có tác động lớn đến kết quả kinh doanh.
Nguồn đóng góp lớn tiếp theo đến từ tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL). HDS ghi nhận 543 tỷ đồng lãi từ nhóm này, gồm 333 tỷ đồng lãi bán tài sản tài chính, 154 tỷ đồng chênh lệch tăng do đánh giá lại và 55 tỷ đồng cổ tức, tiền lãi từ danh mục. Ở chiều ngược lại, lỗ FVTPL ở mức 117 tỷ đồng. Sau bù trừ, lãi ròng đạt khoảng 425 tỷ đồng, tăng 178,1%.
Tính chung, các nghiệp vụ thị trường vốn và lãi FVTPL tạo khoảng 1.264 tỷ đồng doanh thu, tương đương gần 88,5% tổng nguồn thu hoạt động quý II. Trong khi đó, lãi từ cho vay và phải thu đạt 83 tỷ đồng, tăng 118,8%, nhưng mới chiếm chưa đến 6%. Doanh thu môi giới đạt 24 tỷ đồng từ nền thấp, trong khi chi phí trực tiếp cũng gần 24 tỷ đồng. Cơ cấu này cho thấy lợi nhuận của HDS chủ yếu đến từ phí phát hành, tư vấn và tự doanh, thay vì môi giới bán lẻ.
Danh mục hơn 10.000 tỷ đồng nghiêng về trái phiếu
Sau giai đoạn tăng vốn, tổng tài sản HDS đạt 20.264 tỷ đồng tại 30/6, tăng 240,6% so với cuối 2025. Vốn chủ sở hữu tăng từ 3.480 tỷ đồng lên 13.419 tỷ đồng; vốn góp của chủ sở hữu đạt 10.961 tỷ đồng, tăng 650%. Trong 6 tháng, dòng tiền từ phát hành cổ phiếu và nhận vốn góp đạt 8.728 tỷ đồng.

Phần vốn mới được phân bổ chủ yếu vào FVTPL, tiền gửi kỳ hạn và cho vay. Danh mục FVTPL tăng từ 2.214 tỷ đồng lên 10.251 tỷ đồng, tăng thêm 8.037 tỷ đồng và chiếm 50,6% tổng tài sản. Các khoản cho vay đạt 5.800 tỷ đồng, tương đương 28,6% quy mô tài sản; trong đó cho vay ký quỹ ở mức 5.288 tỷ đồng, còn ứng trước tiền bán đạt 512 tỷ đồng.
Tài sản nắm giữ đến ngày đáo hạn tăng lên 2.746 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn. Tiền và tương đương tiền giảm còn 602 tỷ đồng. Sự dịch chuyển này cho thấy phần vốn mới được đưa vào các tài sản có khả năng tạo thu nhập, thay vì duy trì chủ yếu dưới dạng tiền mặt.
Cơ cấu FVTPL nghiêng rõ về công cụ nợ. Trái phiếu chưa niêm yết đạt 8.935 tỷ đồng, chiếm khoảng 87% danh mục này và khoảng 44% tổng tài sản. Chứng chỉ tiền gửi đạt 1.064 tỷ đồng; cổ phiếu niêm yết đạt 227 tỷ đồng; cổ phiếu chưa niêm yết khoảng 12 tỷ đồng; trái phiếu niêm yết khoảng 13 tỷ đồng. Với tỷ trọng này, nguồn thu tự doanh phụ thuộc nhiều hơn vào trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, lãi trái phiếu và chênh lệch giá công cụ nợ so với biến động cổ phiếu niêm yết.
Ở phía nguồn vốn, HDS phát sinh 4.420 tỷ đồng vay ngắn hạn, đưa nợ phải trả lên 6.845 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu giảm từ 0,71 lần xuống 0,51 lần nhờ vốn chủ tăng nhanh, trong khi vay ngắn hạn/vốn chủ sở hữu tăng từ 0 lên 0,33 lần. Dòng tiền kinh doanh 6 tháng âm 13.610 tỷ đồng do công ty mua tài sản tài chính và mở rộng cho vay; dòng tiền tài chính dương 13.148 tỷ đồng nhờ vốn góp mới và vốn vay.
Quy mô khách hàng cũng mở rộng cùng nền tài sản. Tài sản tài chính của nhà đầu tư niêm yết hoặc đăng ký giao dịch tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) tăng từ 69.766 tỷ đồng lên 93.273 tỷ đồng, tương đương 33,7%. Tiền gửi khách hàng tăng từ 611 tỷ đồng lên 1.828 tỷ đồng, gần gấp 3 lần cuối 2025. Các chỉ tiêu này mở rộng cơ sở cho môi giới, cho vay ký quỹ và dịch vụ chứng khoán, trong khi lợi nhuận kỳ này vẫn chủ yếu đến từ phí thị trường vốn và FVTPL.