Huy động 30.000 nhân công đào lấp trên 3 triệu m³ đất, Việt Nam đưa công trình trị thủy dài 232km về đích sau 7 tháng khởi công, lập kỷ lục tại miền Bắc
Đây là công trình thủy lợi đầu tiên và lớn nhất ở miền Bắc sau ngày hòa bình lập lại, vinh dự 4 lần được Bác Hồ về thăm.
Hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải là một trong những công trình thủy lợi có quy mô lớn, giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội của khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Công trình được xây dựng với mục tiêu chủ yếu là bảo đảm tưới tiêu, tiêu thoát úng cho một vùng tứ giác rộng lớn, nằm giữa các con sông Hồng, Đuống, Thái Bình và Luộc, thông qua mạng lưới kênh mương, đập, trạm bơm và hệ thống đê điều liên hoàn.
Vùng Bắc Hưng Hải có diện tích tự nhiên hơn 20 nghìn ha, trải dài trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, phần lớn tỉnh Hải Dương (cũ), một phần tỉnh Bắc Ninh và TP. Hà Nội. Đây là khu vực có mật độ dân cư cao, tập trung nhiều đô thị, khu công nghiệp, đồng thời cũng là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của miền Bắc.
Trước khi hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải được đầu tư xây dựng, mặc dù được xem là một trong những “vựa lúa” lớn của miền Bắc, nhiều địa phương thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương (cũ) vẫn thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu nước vào mùa khô và ngập úng khi mưa lũ. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, mỗi năm chỉ canh tác được một vụ lúa, các vụ khác thiếu ổn định, hiệu quả không cao.

Theo tư liệu của Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ đã xác định việc xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm khắc phục hạn hán, úng lụt, từng bước ổn định sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống Nhân dân. Chủ trương này được triển khai trong quy hoạch tổng thể, thống nhất cho toàn vùng, gắn với phong trào phát triển hợp tác xã, tạo nền tảng cho miền Bắc tiến lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ngày 1/10/1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thực hiện nhát cuốc đầu tiên tại công trường xây dựng cống Xuân Quan (Hưng Yên), chính thức khởi công công trình thủy nông Bắc Hưng Hải. Hệ thống có tổng chiều dài hơn 232 km, được thiết kế nhằm bảo đảm tưới, tiêu và thoát úng cho toàn bộ vùng tứ giác giới hạn bởi sông Hồng ở phía Tây, sông Đuống ở phía Bắc, sông Thái Bình ở phía Đông và sông Luộc ở phía Nam.
Trong suốt quá trình chuẩn bị và thi công, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Dù bận nhiều công việc, Người đã 4 lần trực tiếp về thăm, kiểm tra và động viên cán bộ, công nhân, Nhân dân đang lao động trên công trường.


Lần đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm công trường vào ngày 20/9/1958. Tại đây, Người trực tiếp xuống chân đê Xuân Quan, thăm hỏi, trò chuyện với cán bộ, công nhân và dân công đang khẩn trương chuẩn bị thi công, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trong việc đưa nước về đồng ruộng, giảm sức lao động thủ công và ổn định sản xuất nông nghiệp. Người cũng căn dặn phải tổ chức thi công chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật lao động, chuẩn bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ để công trình hoàn thành đúng tiến độ và đạt chất lượng.
Thực hiện lời dạy của Bác, hàng vạn cán bộ, bộ đội, dân công và học sinh trong vùng đã tích cực tham gia lao động trên công trường. Phong trào thi công lan tỏa rộng khắp khu vực châu thổ, từ Gia Lương, Thuận Thành (Bắc Ninh), Gia Lộc, Bình Giang, Thanh Miện (Hải Dương cũ) đến Kim Động, Khoái Châu, Văn Giang (Hưng Yên), tạo nên khí thế lao động sôi nổi với tinh thần hướng tới lợi ích lâu dài của Nhân dân.
Trong lần trở lại thăm công trường thứ 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với gần 30.000 dân công, công nhân và cán bộ, nhấn mạnh đây là một chiến dịch lớn, đòi hỏi tinh thần quyết tâm cao độ, vai trò nêu gương của đảng viên, đoàn viên, thanh niên, công nhân và cán bộ, nhằm bảo đảm đủ nước cho vụ chiêm sắp tới, góp phần mang lại cuộc sống ấm no cho đồng bào. Sau đó, Người còn 2 lần nữa đến thăm công trường để tiếp tục động viên tinh thần lao động.

Sau 7 tháng thi công khẩn trương, đến ngày 1/5/1959, công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải hoàn thành với khối lượng xây dựng lớn, gồm 7,5 nghìn m³ bê tông đúc, 226 nghìn m³ đá xây lát và gần 3 triệu m³ đất đào đắp. Bắc Hưng Hải trở thành công trình thủy lợi đầu tiên và lớn nhất ở miền Bắc sau ngày hòa bình lập lại.
Công trình đã bảo đảm cung cấp nước tưới cho hơn 10 nghìn ha lúa, hoa màu và cây công nghiệp, đồng thời tiêu úng cho gần 20 nghìn ha đất canh tác trong vùng. Ngày mở cống Xuân Quan, dòng nước sông Hồng chảy về đồng ruộng đã mang lại niềm phấn khởi cho hàng vạn cán bộ, công nhân và Nhân dân các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương (cũ).
Trải qua hơn 67 năm khai thác, vận hành, hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải tiếp tục phát huy hiệu quả trong phục vụ sản xuất và đời sống Nhân dân. Hiện nay, công trình đang cấp nước tưới cho gần 120 nghìn ha cây trồng, đồng thời cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 3 triệu người dân trong khu vực.
Toàn hệ thống gồm 11 công trình đầu mối trên trục chính, khoảng 400 trạm bơm lớn với 1,2 nghìn máy bơm có công suất từ 1 nghìn đến 8 nghìn m³/giây, cùng hàng nghìn trạm bơm nhỏ, hơn 800 cống tưới tiêu, 225 km sông trục chính và hàng nghìn km kênh mương nội đồng.

Nhằm bảo đảm nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và từng bước kiểm soát chất lượng nước trong hệ thống Bắc Hưng Hải, tháng 12/2023, Cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũ) đã khởi công xây dựng trạm bơm dã chiến Xuân Quan.
Trạm bơm được thiết kế với 8 máy bơm công suất lớn, lưu lượng thiết kế 16 m³/giây, chiều dài 26 m, rộng 7,4 m, tổng mức đầu tư hơn 60 tỷ đồng. Sau gần 4 tháng thi công, đến ngày 27/3/2024, trạm bơm dã chiến Xuân Quan chính thức đi vào vận hành, góp phần tăng cường năng lực cấp nước và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước sông Kim Sơn cũng như toàn bộ hệ thống sông Bắc Hưng Hải.

Từ khi hình thành đến nay, hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải luôn gắn liền với tiến trình phát triển của vùng đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước trong công tác trị thủy, phát triển nông nghiệp và ổn định đời sống Nhân dân. Công trình không chỉ mang giá trị kinh tế - xã hội sâu sắc trong lịch sử mà còn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của khu vực và cả nước.
