Đề xuất xây dựng Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với công trình thủy lợi đầu tiên và lớn nhất miền Bắc sau hòa bình
Công trình được kỳ vọng trở thành không gian giáo dục, lan tỏa các giá trị lịch sử, văn hóa gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh và vùng Bắc Hưng Hải.
UBND xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên vừa trình báo cáo đề xuất triển khai dự án xây dựng “Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải” trên địa bàn xã.
Theo nội dung đề xuất, công trình được xác định có giá trị đặc biệt về lịch sử, chính trị và văn hóa, gắn liền với tư tưởng lấy nhân dân làm trung tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời phản ánh vai trò của hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải trong tiến trình phát triển bền vững của khu vực.
Dựa trên những đề xuất của địa phương, UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành văn bản giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, đơn vị liên quan tham mưu UBND tỉnh xem xét đề xuất này.

Theo thông tin từ Báo Hưng Yên, xã Việt Tiến nằm trong không gian trung tâm của lưu vực Bắc Hưng Hải, nơi hội tụ và giao thoa của nhiều tuyến nhánh thủy lợi quan trọng như sông Điện Biên, sông Kim Ngưu, sông Nghĩa Trụ.
Nhờ điều kiện tự nhiên và hệ thống thủy lợi đặc thù, khu vực này từ lâu đã hình thành vùng sản xuất nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh Hưng Yên, đặc biệt đối với cây lúa và các loại cây lương thực thiết yếu. Không chỉ là nơi công trình đi qua, xã Việt Tiến còn đại diện cho không gian hưởng thụ, duy trì và phát huy những giá trị thực tiễn mà công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải mang lại.
Bên cạnh giá trị kinh tế - xã hội, xã Việt Tiến còn mang trong mình chiều sâu lịch sử - văn hóa đặc biệt. Thôn Vân Nội, thuộc xã Việt Tiến, là quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuối năm 2005, Nhà thờ bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng trên khu đất đình làng cũ của thôn Vân Nội.

Trong không gian hội tụ giữa giá trị kinh tế, lịch sử và văn hóa ấy, xã Việt Tiến được xem là nơi kết nối hài hòa giữa cội nguồn gia đình, tình cảm quê hương và tư tưởng vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Việc xây dựng Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải tại xã Việt Tiến được đặt trong tổng thể không gian lịch sử, văn hóa và phát triển của địa phương. Công trình hướng tới việc tái hiện một cách trực quan mối quan hệ gắn bó giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn, lấy Nhân dân làm trung tâm.

Đồng thời, công trình Tượng đài còn được xác định là một không gian giáo dục truyền thống, nơi lưu giữ và chuyển tải những giá trị lịch sử, văn hóa gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh và công trình thủy lợi trọng điểm của vùng Bắc Hưng Hải.
Công trình Đại thủy nông mang đậm dấu ấn của Bác
Công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải là dự án trị thủy đầu tiên của miền Bắc được triển khai sau ngày hòa bình lập lại, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực đồng bằng Bắc Bộ cũng như cả nước. Trong suốt quá trình chuẩn bị và thi công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 4 lần trực tiếp tới công trường kiểm tra, thăm hỏi và động viên cán bộ, bộ đội, dân công.
Vùng Bắc Hưng Hải có diện tích tự nhiên hơn 20.000 ha, được bao bọc bởi hệ thống sông lớn gồm sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc và sông Thái Bình. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính phủ, trực tiếp là Bộ Kiến trúc và Thủy lợi (trước đây), đã chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng một hệ thống thủy nông quy mô lớn nhằm giải quyết căn bản tình trạng hạn hán, úng lụt kéo dài, tạo nền tảng ổn định và phát triển s

Ngày 1/10/1958, tại cống Xuân Quan, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thực hiện nhát cuốc đầu tiên, chính thức phát lệnh khởi công xây dựng công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Chỉ hơn một tuần sau, gần 150 hộ dân làng Bát Tràng đã tự nguyện di dời tới nơi ở mới để bàn giao mặt bằng phục vụ thi công. Nhân dân các xã Xuân Quan, Cửu Cao (huyện Văn Giang cũ, tỉnh Hưng Yên) cũng chấp nhận hy sinh khoảng 150 ha lúa để đào kênh dẫn nước vào cống Xuân Quan, bảo đảm tiến độ công trình.
Trong lần đầu tới thăm công trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của công trình đối với nhiệm vụ chống hạn, đồng thời căn dặn cán bộ và nhân dân các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương (cũ) rằng nếu công trình Bắc Hưng Hải hoàn thành, mỗi năm nhân dân sẽ giảm được hàng triệu ngày công chống hạn, sản lượng thu hoạch tăng lên rõ rệt. Người khuyến khích mọi người nỗ lực phấn đấu trong vài tháng để có thể hưởng lợi ích lâu dài cho nhiều thế hệ sau.
Ở lần thăm thứ hai, khi nói chuyện với gần 30.000 dân công, công nhân và cán bộ đang làm việc tại công trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh tinh thần tổ chức và quyết tâm trong thi công. Người coi việc xây dựng công trình Bắc Hưng Hải là một chiến dịch lớn, yêu cầu toàn bộ lực lượng tham gia phải có tinh thần quyết chiến, quyết thắng; trong đó, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, công nhân và cán bộ cần gương mẫu đi đầu, nỗ lực bảo đảm đủ nước cho vụ chiêm sắp tới đạt thắng lợi, mang lại ấm no cho nhân dân.

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn hai lần nữa trở lại công trường, kịp thời động viên, khích lệ tinh thần lao động của các lực lượng đang trực tiếp tham gia xây dựng.
Sau bảy tháng thi công khẩn trương, ngày 1/5/1959, công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải chính thức hoàn thành trong niềm phấn khởi của hàng vạn cán bộ, công nhân và nhân dân. Công trình đạt khối lượng xây dựng lớn với khoảng 7.500 m³ bê tông, 226.000 m³ đá lát và gần 3 triệu m³ đất đào đắp. Trong điều kiện máy móc, thiết bị còn hạn chế, phần lớn các hạng mục được thực hiện bằng lao động thủ công.
Cũng trong năm 1959, Xưởng phim Việt Nam đã sản xuất bộ phim tài liệu “Nước về Bắc Hưng Hải”, ghi lại toàn bộ quá trình xây dựng công trình thủy lợi đầu tiên và lớn nhất ở miền Bắc sau hòa bình. Bộ phim sau đó giành Giải Bông Sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ nhất và Huy chương Vàng tại Liên hoan phim Moskva.
Hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải lấy nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan, đồng thời tiêu thoát nước qua các cống Cầu Xe, An Thổ cùng nhiều công trình liên quan khác. Từ khi đi vào vận hành, vùng tứ giác Bắc Hưng Hải từng bước chấm dứt tình trạng “chiêm khê, mùa thối”, tạo điều kiện ổn định cho sản xuất nông nghiệp. Cùng với trục chính, hệ thống kênh mương nhánh được đầu tư xây dựng, đưa nước trực tiếp tới đồng ruộng, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, phát triển chăn nuôi và cải thiện đời sống người dân.
