Huy động 36.000 lao động xây hồ nước nhân tạo lớn nhất Đông Nam Á, quy mô rộng trên 2.200 lần hồ Gươm
Hồ nước này góp phần điều hòa môi trường, kiểm soát lũ và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại khu vực Nam Bộ.
Hồ Dầu Tiếng - hồ nước ngọt nhân tạo lớn nhất Đông Nam Á từ lâu được xem là một trong những công trình thủy lợi đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Hồ nằm trên địa bàn 3 tỉnh, thành phố gồm Tây Ninh, Đồng Nai (Bình Phước cũ) và TP. HCM (Bình Dương cũ). Với diện tích lưu vực hơn 270km2 (rộng gấp 2.225 lần hồ Gươm và 50 lần hồ Tây) và dung tích chứa đạt 1,58 tỷ m3, hồ Dầu Tiếng không chỉ tạo nguồn nước ổn định cho sản xuất mà còn góp phần điều hòa môi trường, kiểm soát lũ và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho khu vực Nam Bộ.
Công trình được khởi công xây dựng năm 1981 và hoàn thành vào năm 1985 với tổng vốn đầu tư 110 triệu USD (gần 2.900 tỷ) từ khoản vay của Ngân hàng Thế giới. Đây cũng là dự án đầu tiên của nước ta sau năm 1975 sử dụng nguồn vốn vay bằng USD.

Bên cạnh nguồn vốn đầu tư, hàng nghìn người dân địa phương đã đồng lòng hiến đất đai, nương rẫy để tạo quỹ đất cho vùng tích nước. Trong giai đoạn xây dựng, người dân và lực lượng thi công phải đối mặt với nhiều khó khăn khi khu vực này còn hoang vu, rừng rậm, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, giao thông đi lại vô cùng trắc trở.
Theo thông tin từ Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi miền Nam - đơn vị trực tiếp quản lý hồ Dầu Tiếng, để hình thành hồ chứa quy mô lớn này, hơn 36.000 lao động đã được huy động, đóng góp khoảng 15 triệu ngày công, cùng khối lượng đào đắp hơn 11,6 triệu m3 đất. Những con số này cho thấy sức người và nguồn lực lớn đã được dồn vào một công trình mang ý nghĩa chiến lược.
Đi liền với hồ chứa là hệ thống kênh dẫn gồm kênh Đông, kênh Tây và kênh Tân Hưng với tổng chiều dài lớn. Hệ thống này giúp điều phối nguồn nước cho hơn 1.550km các tuyến kênh nhánh, đưa nước đến các vùng sản xuất, góp phần khắc phục tình trạng hạn hán kéo dài vào mùa khô và cải thiện đáng kể năng lực tưới tiêu cho diện tích canh tác rộng lớn của Tây Ninh cùng các tỉnh lân cận.

Từ khi đi vào vận hành, hồ Dầu Tiếng đã trở thành “nguồn sống” của nhiều vùng đất. Hồ cung cấp nước tưới trực tiếp cho nông nghiệp, đồng thời cấp nước thô phục vụ công nghiệp và sinh hoạt. Bên cạnh đó, hồ còn tạo dòng chảy duy trì môi trường hạ du sông Sài Gòn, hỗ trợ đẩy mặn, tái tạo nguồn nước và đảm bảo tưới tiêu cho hàng chục nghìn ha đất nông nghiệp dọc sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông.
Không chỉ dừng lại ở chức năng thủy lợi, lưu lượng xả môi trường và lượng nước qua cống lấy nước còn được tận dụng để phát điện, xây dựng các cánh đồng điện mặt trời, đồng thời mở ra điều kiện phát triển du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản và khai thác khoáng sản.

Bên cạnh giá trị kinh tế, hồ Dầu Tiếng còn được ví như “lá chắn thiên nhiên” trong công tác phòng, chống thiên tai. Công trình giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, chống hạn, cắt lũ, hạn chế xói mòn đất, qua đó bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân. Việc quản lý và khai thác hiệu quả nguồn nước cũng góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu và bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng của vùng đất Nam Bộ.
Với những giá trị vượt trội, hồ Dầu Tiếng không chỉ là một công trình thủy lợi đơn thuần mà còn trở thành biểu tượng cho ý chí, sức sáng tạo và quyết tâm chinh phục thiên nhiên của người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Công trình này cũng là nền tảng quan trọng để vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng hiệu quả trước những biến động của khí hậu.